CÁNH ÉN ONLINE

Tổ chức dân chủ Việt Nam chủ trương và thực hiện

Friday, May 18th

Last update07:06:20 AM GMT

Headlines
You are here Văn học, nghệ thuật, thể thao Văn học SÔNG VẪN VƯỢT NGÀN

SÔNG VẪN VƯỢT NGÀN

Thư điện tử In PDF
Đánh giá của người đọc: / 0
DởHay nhất 

 

 

 

SÔNG VẪN VƯỢT NGÀN

Đào Như

(Tết Giáp Thân-2004)

Cách đây vài ngày, bà Giám đốc trịnh trọng nói với ông:

“ Thưa bác sĩ, chúng tôi muốn gợi ý bác sĩ, tháng sáu năm tới, bác sĩ đúng 66 tuổi. Tôi muốn dành thời gian quí báu còn lại của bác sĩ cho gia đình bác sĩ…và xin bác sĩ hiểu cho thời thế đã thay đổi…”

Thật sự vấn đề ‘hưu’ ông ta chiêm nghiệm từ lâu, nhất là từ năm 1999, khi ông bị tai biến, khả năng thính giác bị suy sụp. Ông đã nói chuyện này với vợ cũng như thư điện với các con ông nhiều lần. Nhưng khi nghe bà giám đốc nói như vậy ông cũng cảm thấy nao nao. Ông cảm thấy mình đang cố bám víu một điều gì xem chừng nghịch lý. Già rồi thì phải về hưu chớ, để cho tuổi trẻ có cơ hội ngoi lên! Năm tới tuổi thật của ông 68 rồi, tuổi bào mẫu là 69, coi như gần cổ lai hy rồi! Ông cố bám víu cách mấy đi nữa năm tới ông cũng phải hưu.

Cưu mang lắm việc rồi đến tuổi hưu ta cũng phải tự hỏi, ta làm được những gì cho đời? Lớn lên trong chiến tranh, hư hao đổ nát, mang nhiều ước vọng vào đời, phục vụ đất nước chưa đầy mươi năm, trôi giạt xứ người, cuộc sống lưu vong của ông thật là hẩm. Đến Mỹ tháng 11 năm 79, sau thiên hạ gần 4 năm, ông không thể nào trở lại nghề bác sĩ, mặc dầu ông thi đậu bằng cấp hành nghề bác sĩ tại Mỹ. Ông hài lòng với nghề tư vấn tâm thần vì với nghề này, ông có cơ hội trở lại phục vụ cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ông đã được nhận là Giám đốc chương trình Bịnh Tâm Thần cho người tị nạn Đông Dưnơg tại Chicago. Nhờ vậy, ông lúc nào cũng thấy phấn khởi khi dấn thân làm việc cho Cộng đồng người Việt tại hải ngoại. Ông chưa bao giờ an phận dừng chân. Năm nay ông đã 68, ông vẫn chưa biết đâu là bến đậu, lúc nào là lúc thả neo lần cuối để cho chiếc tàu đời ông được an nghỉ. Ông chiêm nghiệm đời người như một dòng song. Phát nguyên từ nguồn cao, vượt bao nhiêu ghềnh thác, dòng sông càng trôi càng thay đổi, càng trôi càng mở rộng. Càng trôi dòng sông càng tiếp nhận nhiều phụ lưu, lòng của dòng sông, nhịp trôi luôn luôn thay đổi, có lúc nông, lúc sâu, lúc nhặt, lúc khoan, có lúc cuồn cuộn vương lên vượt ghềnh vượt thác, có lúc đổ nhào xưống vực thẩm, dòng sông vẫn miệt mài trôi, mang nặng phù sa tạo nên những nương, những bãi, những cồn những thôn xóm làng mạc, đất nước!..Đã có biết bao nền văn minh và xã hội dựng lên từ những dòng sông! Khi trôi đến cửa biển dòng sông hội nhập vào đại dương, mang đến đại dương nguồn nước mới, những chất liệu mới, những sinh khí mới…và trôi mãi đến vô cùng. Dòng sông đời cũng miệt mài trôi khi đến tuổi hưu, như dòng sông đến cửa biển, với niềm khao khát và ước vọng hội nhập cùng thế giới! Hưu không có nghĩa là đời người ngưng đọng lại. Ông luôn luôn quan niệm, hưu là điểm khởi đầu cho một hành trình mới.

Nhiều lúc ông tự hỏi sao ta lại dấn thân lắm việc. Không hiểu một thôi thúc nào đó dã réo gọi ông đi vào muôn ngả của đời. Ông vẫn thấy mình vẫn còn trẻ. Ông thường khoe với người bạn vong niên, những đường gân những cơ bắp ông có. Những cánh buồm xa trên biển vẫn vẫy gọi ông. Sau đôi mắt đẹp của người con gái là những thiên đường ước mơ! Ông chan chứa yêu đời yêu người. Những buổi sáng cuối Thu khi đi làm, ông vẫn chọn cravatte cho hợp với ngày thu muộn, đẹp và buồn! Ông vẫn còn mong ngóng những buổi chiều cuối tuần. Những giọt mưa Thu không ngừng gõ vào hồn ông tiếng gọi lên đường. Ông thường đi bách bộ qua các sân trường đại học, ông thấy những sinh viên nam nữ ngồi hay nằm bên cạnh nhau, ông tha thiết nhớ! Cũng như họ ông thường đưa bà, vợ ông, vào những buổi xế chiều mùa Hạ, đến Ravina, Trung tâm trình diễn nhạc thính phòng ngoài trời tại Chicago. Cũng như những đôi nam nữ khác, ông bà cũng ngồi tựa bên nhau trên bãi cỏ nghe ca nhạc thính phòng. Có lần cũng nơi ấy ông bà gặp Đặng Thái Sơn trình diễn dương cầm những tình khúc của Fréderic Chopin. Trong nắng hoàng hôn hôm ấy, ông mơ thấy anh mắt tình tự của George Sand tha thướt trên những trang tiểu thuyết trữ tình! Trong chín năm qua ông dồn hết những hiểu biết, ân huệ đời ban cho, với số vốn chữ nghĩa học được từ đất mẹ, ông thực hiện tập truyện ngắn “Câu Lạc Bộ 309.81”. Ông rất thú vị khi thấy tập truyện ngắn của ông được vô vàn đọc giả niềm nở đón nhận. Có nhiều người phát biểu những cảm nghĩ sâu sắc về tác phẩm của ông ngay tại buổi ra mắt tại ngân hàng Bridgeview-Bank Chicago. Hy vọng chăng, văn học nghệ thuật là hành trang mới cho ông lên đường!

Có những chiều ông về muộn. Một mình ngồi trong văn phòng. Nơi đây ông đã tư vấn vô số người và vô số gia đình trong 20 năm qua. Họ là đồng hương, đều là nạn hân của chiến tranh. Đồng cảnh ngộ cho nên sự cảm nhân của ông với hoàn cảnh của bệnh nhân thật sâu sắc. Họ là người đồng hành với ông trên đường đời. Ông cảm thấy có sự ràng buộc thiêng liêng nào đó. Quyết định về hưu thì dễ, nhưng xa bịnh nhân xa văn phòng mà ông đã ngồi đó suốt trong 20 năm qua, ông không khỏi ngậm ngùi. Lúc đương thời ông là bác sĩ phẫu thuật ở trong nước, ông chưa hề nghĩ đến chuyện về hưu. Các vị thầy của ông, các giáo sư của Trường Y Sàigòn, Hà nội, Huế ở tuổi trên 60, 70 họ vẫn tiếp tục phục vụ đất nước, phục vụ y học. Mắt họ vẫn tinh sáng, trí tuệ họ vẫn linh động. Họ luôn luôn tìm tòi học hỏi nghiên cứu. Họ tiến bộ không ngừng. Họ là những bác sĩ đầu nghành, nêu cao phẩm chất của người trí thức yêu nước, yêu nghề. Trong thời kỳ khói lửa có lúc phẫu thuật tiến hành dưới bom đạn, trong chiến hào, dưới hầm chiến thuật, cân não họ vẫn vững chắc như thành đồng, tay cầm dao phẫu thuật không hề run. Họ luôn luôn nêu cao tấm gương mẫu mực cho cho học trò, cho mai hậu. Khi còn ở trong nước ông cũng học hỏi theo thầy. Điều mơ ước lớn nhất của ông là được cầm dao phẫu thuật đến hơi thở cuối cùng. Ông mơ ước vì một tai biến nào đó của tuổi già ông được chết gục bên cạnh bàn mổ trong lúc ông đang thực hiện phẩu thuật. Bây giờ ông mới thức tỉnh, đó là giấc mơ không tưởng cho một kẻ đã bỏ nước ra đi! Trên đường về nhà, trên xe lửa, ông suy nghĩ về ngày nghỉ hưu gấn kề. Ông cảm thấy buồn vì còn nhiều người cần sự giúp đỡ của ông. Ông cảm thấy mình là kẻ đào ngũ trước trách nhiệm. Ông nghĩ chấp nhận về hưu là một việc làm nhẫn tâm với lương tri mình! Tối hôm ấy ông về nhà muộn, vợ ông mở cửa ông vào. Thấy ông có vẻ dàu dàu bà hỏi:

- Sao anh về muộn vậy? Anh ở lại trễ để tranh thủ với bà giám đốc để anh tiếp tục làm việc? Anh không muốn về hưu sao? Không đâu anh! Già rồi thì phải về hưu chớ! Trông anh cũng mệt mỏi rồi. Mình phải ra đi thôi! Nhường chỗ cho người trẻ hơn họ đến. Biết đâu người thế anh trong tương lai, họ có thể hiểu bịnh nhân hơn anh, họ có thể giúp đỡ bịnh nhân hữu hiệu hơn anh.

Ông không ngờ những lời vợ ông nói thật sâu sắc và ủy lạo ông rất nhiều. Ông thầm cảm ơn bà. Thấy mâm cơm dọn sẳn và chờ đợi ông, ông hối tiếc là đã về trễ. Ông lên tiếng mời bà ngồi lại ăn cơm. Thấy bà mang lại mâm cơm ngọn nến hương, ông hỏi:

- Sao hôm nay tình thế! Chúng ta ăn cơm dưới ánh sáng của nến à!

Nghe thế, bà cười, bà hỏi lại ông:

- Anh có nhớ hôm nay là 23 Tây? Ngày mai là 24 tháng Chạp, lễ Giáng Sinh không anh?

Nghe bà hỏi thế, ông kêu ‘ha’! Hai bàn tay ông ôm lấy đầu. Một nỗi buồn xâm chiếm tâm hồn ông. Ông thầm thì:

- Ta già đến thế sao!

Ông nghe bà an ủi:

- Không đâu anh! Anh còn trẻ và chúng ta còn trẻ. Nhưng đôi lúc cũng phải biết quên chớ anh. Không nên cứ mãi ràng buộc mình với đời, khổ lắm anh ạ!

Ông đứng dậy, nhìn qua cửa sổ. Tuyết và gió đuổi nhau trên mặt đường. Ông bảo:

- Mai giáng sinh, tuyết vá gió đuổi nhau ở ngoài. Trông đẹp thật. Bà xem nào!

- Ông lại thành thi sĩ nữa rồi! Khổ! Ngày xưa đọc câu thơ của ai: “gió rình khe cửa”, em không hiểu hết ý nghĩa của nó. Ở đây, suốt hơn 20 năm qua, nghe gió mùa Thu, nghe gió mùa Đông luồn qua khe cửa, luồn qua mái hiên, em mới hiểu cái ý nghĩa quạnh quẽ cô đơn của câu thơ.

- Bà còn thi sĩ hơn cả tôi nữa.

Rồi ông cười nắm lấy tay bà ngồi lại bàng ăn. Ông xin lỗi, ông đã về muôn. Trong bữa ăn tối hôm ấy, hai ông bà nhắc chuyện con cái. Bà than phiền:

- Ở Mỹ ai cũng làm việc cực lực. Càng trẻ người Mỹ càng say mê làm việc. Càng làm lớn càng làm việc nhiều hơn. Không nề hà giờ giấc hay ngày nghỉ cuối tuần! Bà cũng không ngớt ca ngợi:

- Thế hệ trẻ ở Mỹ làm việc cần mẫn, cống hiến tận tình cho tổ quốc. Nghĩ mà thương con và rể mình, tụi nó bù đầu với công việc. Tụi nó giống ông hay lam hay làm!

Nghe nói thế, ông nhìn bà, ông âu yếm nói:

- Bà cũng vậy. Bà có khác gì cha con tôi đâu!

Ông vừa nâng cốc rượu vang, ông vừa nịnh bà:

- Bà tìm ở đâu hay vậy! Pey de Pont/ Grand Vin de Bordeau! À tôi nhớ ra rồi! Hôm trước đi shopping ở Woodfield với bà, gặp nó trong hầm rượu của Marshall Field, tôi có nói với với bà đó là loại vang mà tôi thích xa xưa lắm, trước 75, khi tôi còn là nội trú bịnh viện Bình dân Sài gòn, khi tôi còn làm việc tại bịnh viện Phước thiện, Tiều Châu ở Chợ lớn. Không ngờ bà lặn lội vào đó mua cho tôi. Cám ơn bà! Lúc nào bà cũng dành những thú vị bất ngờ cho tôi!

- Ông khéo văn vẻ! Ông làm tôi cảm động! Không khéo tôi lại khóc bây giờ!

Rồi bà ôm vai ông bà nói lớn vào tai ông:

- Tôi nói về hạnh phúc gia đình, hạnh phúc lứa đôi và sức khoẻ. Con, dâu, rể của mình còn trẻ làm việc quá đi thôi! Ông nữa, lớn tuổi rồi, năm nay 68, tuổi bào mẫu là 69, coi như thất thập cổ lai hy! Phải biết dừng lại chớ. Rủi ro có tai biến gì làm sao tôi chịu được!

- Con, rể, dâu đều thương bà. Tất cả đều thư điện cho tôi, cùng chung một ý nghĩ như bà: “Rủi ro ba có bề gì thì cũng chỉ khổ cho mẹ thôi! Ba thương mẹ phải không ba?”! Rồi ông âu yếm nắm lấy tay bà:

- Rất tiếc, tôi đã trót sinh ra như vậy biết làm sao bây giờ! Nhiều lúc tôi nghĩ đến sự chịu đựng của bà vì tôi trong suốt hơn 33 năm qua, tôi cũng thối chí, tôi muốn dừng lại ngay. Nhưng tôi nghĩ bà đâu có muốn là một người vợ làm chồng thối chí. Tôi xin bà hiểu cho tôi. Xin ơn trên cho tôi vẹn toàn sức khoẻ. Điếc là một hình phạt quá lớn đối với tôi! Đủ rồi! Mong không có tai biến gì nữa, ngoại trừ cái chết đột ngột như tôi từng mơ ước. Ông thì thầm:

- Anh hy vọng, anh không làm khổ em nhiều hơn nữa! Em cũng biết không ai có thể đắp đập ngăn sông đâu em! Càng đắp đập, nước càng dâng cao, sông vẫn vượt ngàn!

Nói là nói vậy, bà vẫn biết khó mà ngăn nổi ông. Ông quan niệm đời như dòng nước không ngừng trôi chảy. Có biết bao dòng sông đã qua đời một khi dòng nước trở nên tù đọng. Con người phải biết khai nguồn dẫn dòng nước đi ngang qua ruộng đồng. Có biết bao sông đào, kinh đào đi vào các làng mạc và đô thị. Nó là động mạch làm xanh tươi ruộng đồng, nó là buồng phổi, là nhịp thở của đô thị. Dòng nước luôn luôn trôi chảy, luôn luôn thay đổi, từ nguồn đến biển. Đời sống của con người hay của một chế độ nào đó cũng vậy, muốn tồn tại phải thay đổi. Không có sự tồn tại nào mà không đi đôi với sự thay đổi. Trong đời sống con người luôn luôn sáng tạo, khám phá cái mới, khai phóng những con đường mới dẫn đến cái lạ, cái hay. Ông quan niệm kẻ thù lớn nhất của đời người là chính mình. Đừng bao giờ gục ngã trước chính mình. Ông thường bảo, ông yêu thích những người, biết làm nổ trái mìn để mở lối dẫn đường là nguy hiểm, nhưng họ vẫn làm. Có thất bại hôm nay, sẽ là kinh nghiệm cho mai sau và con đường về phía trước luôn luôn mở để dẫn đến thay đổi, tiến bộ! Đầu ấp tay gối với nhau trên 30 năm, bà không ngừng yêu ông và đồng thời chia sẻ với ông, chấp nhận chịu đựng ông. Bà hiểu ông. Bà trọng nể tư tưởng của ông. Bà biết ông khổ vì chính tư tưởng của ông…Bà không ngạc nhiên trong một thư gửi cho bạn, cũng là đề tựa quyển sách của ông xuất bản năm vừa rồi, ông viết: “Ứớc mơ và lý tưởng có thể cho ta nhiều khổ lụy. Sống một đời với nhiều khổ lụy vì lí tưởng của mình vẫn còn hơn”!

Đến tháng Sáu, ông mới thật sự về hưu, bây giờ hãy còn tháng giêng ông loay hoay mãi suốt ngày lên mạng tìm việc làm hợp với khả năng kinh nghiệm của ông. Ông vẫn còn xông xáo, lục lạo, tìm kiếm. Ông ôm lấy cái lap-top suốt ngày viết lách tra cứu không ngừng. Cả vũ trụ của ông nằm trong lap-top. Chiều nay bà ở sở về, bà đưa cho ông một phong bì lớn:

- Đây, trung tâm William Joiner, thuộc viện đại học Massachusetts-Boston, tuyển nghiên cứu gia chiến tranh và hậu quả của chiến tranh. Em vừa tìm thấy trên Internet chiều hôm nay. Anh thử đọc xem sao? Em thì thấy anh thì thích hợp với job đó là hẳn nhiên rồi. Đó là job anh ước mơ được làm kể từ ngày anh đến Mỹ, còn hơn anh ước mơ trở lại nghề ‘bác sĩ’ của anh. Em chúc anh được job ấy để thỏa chí bình sinh!

Ông đưa hai tay nhận lãnh phong bì từ bà. Ông đọc say mê chương trình của Viện Đại học Massachusetts. Ông vô cùng thích thú về đề tài nghiên cứu, như là:

- Vai trò của văn hóa, nghệ thuật văn chương…trong tiến trình hàn gắng vết thương hậu chiến

- Những chấn thương, những mâu thuẩn còn tồn đọng sau chiến tranh.

- So sánh và phát triển văn học và nghệ thuật ở trong nước và hải ngoại

- Tái xây dựng diện mạo quê hương của người Việt ở nước ngoài.

Nhưng có một đòi hỏi lạ lùng là phải viết một tiểu luận dài ít nhất 10 trang giấy mô tả đề tài nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, cơ cấu lý thuyết cùng khái niệm nghiên cứu…Hơn thế nữa sau thành quả nghiên cứu, mỗi nghiên cứu viên nộp một tham luận có thể xuất bản để làm sáng tỏ vấn đề tìm hiểu trong thời gian thực hiện chương trình…Ông nhận thấy muốn viết một tiểu luận dài hơn mười trang như vậy đòi hỏi ứng cử viên phải có hiểu biết uyên thâm về phương án nghiên cứu về chiến tranh và hậu quả của nó về mọi mặt của xã hội! Ông thấy đó là một đòi hỏi quá cỡ cho bất cứ ứng cử viên nào. Hơn thế nữa lại còn đề xuất: cho xuất bản những tham luận sau mỗi thành quả nghiên cứu. Thật là một chuơng trình thật lý tưởng nhưng quá tham vọng! Nhưng đối với ông thì ông vừa thích thú ông vừa ngạc nhiên! Thích thú là có những kẻ nào đó suy nghĩ giống ông! Ông ngạc nhiên là tại sao mãi đến bây giờ người ta mới để ý đến những nạn nhân của chiến tranh Việt Nam. Trong lúc đó trong gần 20 năm qua, một mình ông cậm cụi trong văn phòng giải phẫu vấn đề một cách tường tận. Ông đã làm việc nghiên cứu tai biến tâm thần và xã hội thời hậu chiến với cả ngàn gia đình Việt, Miên, Lào, gia đình con lai, và cả gia đình người Hoa, có gia đình đến Mỹ từ thời 75! Ông là người tập hợp hơn cả trăm cháu Mỹ lai ở các trường Cấp Ba tại Chicago. Đến 1992 ông làm việc với gần 200 sĩ quan Quân đội Việt Nam Cộng hòa, các cựu biệt kích Mỹ, và cả gia đình của họ đến Mỹ trong diện H.O! Ông đã phối hợp điều trị Tai Biến Tâm Thần và Xã Hội sau Chấn Thương và Stress (Post Traumatic Stress Disorder syndromes- PTSD) với nghệ thuật: hội họa, âm nhạc, và khiêu vũ. Chính ông là người xây dựng Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng Tâm Thần và Xã Hội (Psycho Social Rehab Center: PSR) tại Chicago, để phục vụ và làm việc với nạn nhân chiến tranh, không phải chỉ giói hạn ở người Việt, mà cả các dân tộc Á Châu và nhất là nhất là người Khmer, họ là nạn nhân của thảm trạng: Giết Người Tập Thể (killing field). Năm 1993, ông mời một bác sĩ chuyên bịnh tâm thần, giáo sư y khoa của viện đại học University of Illinois in Chicago. Chính vị giáo sư này làm việc gắng bó với ông. Ông ta đề nghị mướn thêm hai vị bác sĩ tâm thần khác nữa vì số lượng bịnh nhân quá đông. Ông và ba vị bác sĩ tâm thần làm việc hăng say và biết đúc kết thành quả của việc làm. Nhóm bác sĩ này nhiều lúc họ tự hào họ là những người tiên phong của thế giới chẩn đoán và điều trị Triệu Chứng Hậu Chiến (Post Traumatic Stress Disordes - PTSD). Chính ông đã dìu dắt, xây dựng, Trung Tâm Phục Hồi Chức Năng Tâm Thần và Xã Hội (PSR) lớn mạnh! Ông là người áp dụng đầu tiên và nghệ thuật điều trị (Art Therapy) trong diều trị và tư vấn tâm thần tại Asian Human Services Mental Health Clinic tại Chicago! Ông được diễm phúc hơn những người khác: có những sinh viên Việt Nam trẻ, sinh tại Mỹ lờn lên tại Mỹ, tốt nghiệp từ những đại học ưu tú của Mỹ: Washington University, Northwestern University, Madison University…đều nô nức về đây làm việc giúp đỡ ông rất nhiều. Họ là những người Việt, lý tưởng, nhiệt tình với đất nước với cộng đồng nguời việt ở hải ngoại. Họ giúp ông rất nhiểu trong việc áp dụng nghệ thuật trong điều trị và tư vấn! Riêng ông, ông áp dụng triệt để văn chương và triết học trong việc điều trị cũng như trong tư vấn tâm thần. Năm 2003 ông tập trung đúc kết những bệnh án của những bịnh nhân ông làm việc trong gần 20 năm qua thành một tập truyện ngắn: “Câu Lạc Bộ 309.81”

Ông chiêm nghiệm nhiều về chiến tranh! Chiến tranh luôn luôn gắng liền với lịch sử của đất nước. Trong suốt 2000 năm lịch sử của dân tộc, không được mấy mươi năm gọi là hòa bình. Đất nước thường bị phân chia do chế độ phong kiến hay do chính sách của kẻ xâm lược chia để trị. Có phải chăng nhờ chiến tranh triền miên luôn luôn thúc đẩy, những nông phu Lạc Việt thuở xa xưa, đứng trên đồng bằng sông Hồng, hôm nay con cháu họ, sau những chuyến Nam di, đã tạo nên cảnh trang lịch sử Sàigòn, và Đồng Bằng Nam bộ! Ông luôn luôn suy nghĩ về câu nói của sử gia Mỹ, William Durant: “Chiến tranh luôn luôn gắng bó với lịch sử loài người, ngay cả trong thời đại tiến bộ và dân chủ. Trong suốt 3421 năm biên niên sử của nhân loại, chỉ thấy 268 năm không có chiến tranh…Hòa bình là thế quân bình tạm bợ được dàng dựng do những siệu cường hoặc những thế lực có sức mạnh ngang nhau…”

Trong thế kỷ qua, nhìn lại quá khứ gian khổ của dân tộc ta, xuyên qua 3 cuộc trường kỳ kháng chiến từ năm 1945 đến năm 1995, trong cuộc chiến đấu dành lại độc lập, tự do, dân chủ, thống nhất đất nước, hạnh phúc và ấm no cho dân tộc, nhìn lại bất cứ dưới gốc độ nào dân tộc ta cũng gánh chịu những thiệt thòi, những mất mát thật to lớn. Việc nghiên cứu đúng lý ra phải bắt đầu từ thuở ấy. Nghĩ mà thương dân tộc ta biết bao nhiêu nạn nhân đã bị hy sinh trong chiến tranh, bị giết chết trong chiến tranh, bị hủy một phần nào của đời người vì chiến tranh vì bom đạn, vì sự tàn bạo của chính sách xâm lược.

- Mười năm kháng chiến chống pháp 45-54, kết thúc bằng chiến thắng Điện Biên. Hội nghị Genève chia cắt đất nước làm hai, trên và dưới vĩ tuyến 17! Làm sao ta chống lại nổi âm mưu của các cường quốc trong đó có Nga và Trung cộng. Nhất là Trung cộng đã bắt ép ta chấp nhận vĩ tuyến thứ 17! Đó là niềm uất hận mà Thủ tướng Phạm Văn Đồng đến chết vẫn không nguôi!

- Cuộc chiến chống xâm lăng 54-75, đó là cuộc chiến hao người tốn của nhất của lich sử đất

nước! Chúng ta đã đối diện với một kẻ thù tàn bạo, cơ giới, và thâm độc: Hoa Kỳ. Sau khi tháo chạy, người Mỹ để lại sau lưng họ trên đất nước ta 3 triệu người Việt đã chết, 4 triệu người thương vong mất sức lao động, nhiều thành phố, làng mạc bị bom đạn Mỹ san bằng. Nghĩ lại sự tàn bạo chính sách xâm lăng của Mỹ, chúng ta phải mĩm cười nuốt hận thay vì phải khóc oà khi nghe Henry Kissinger tuyên bố: “ So we paid an exorbitant price for the decisions that we were made in good faith and for good purpose!..” Phải chăng người Mỹ mang vũ khí và chiến tranh đến xâm lăng Việt Nam, gây thương tích trên 4 triệu người, và giết hại trên 3 triệu người Việt và đồng thời gần 60 ngàn thanh niên Mỹ bị sát hại, vì mục đích cao cả nào đó?! Những ai có trí tuệ bình thường người Việt cũng như người Mỹ không thể nào hiểu nổi câu nói vô luân ấy của Cố Vấn Nhà Trắng Mỹ!..Một hậu quả ghê gớm sau ngày 30 tháng Tư/75, không ai có thể nhìn thấy trước được: chính phủ cộng sản Việt Nam, miền Bắc gọi tất cả người miền Nam là Ngụy. Người Cộng sản miền Bắc, theo đuổi chính sách Chuyên Chính Vô Sản, một chính sách vô luân, phi dân tộc, phản bội truyền thống đất nước, tù đày cải tạo vùi dập hơn cả triệu người miền Nam yêu nước! Sau 30/4/75 hàng triệu người Việt Miền Nam, di tản hay vượt biên ra nước ngoài. Trong chuyến vượt biên lịch sử này, hàng trăm ngàn người Việt chết dưới đáy biển Đông, hàng chục ngàn người Việt bị vùi thây trong rừng sâu, họ bị Công An biên phòng của Cộng sản đuổi bắt, sát hại cướp đọat tài sản!

- Nhưng cuộc chiến trường kỳ gian khổ nhất là cuộc chiến không vũ trang của 75 triệu đồng bào Việt Nam chống lại cuộc Cấm Vận, Phong Tỏa Kinh Tế của chính phủ Mỹ trong suốt 20 năm 1975-1995! Thái độ trả đũa này của Mỹ gây ra không biết bao nhiệu tệ hại cho đất nước. Năm 1986, trong buổi tiếp xúc với báo chí quốc tế, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã ta thán cùng thế giới: “Vâng, chúng tôi chiến thắng Mỹ, nhưng chúng tôi bị vây khốn bởi nghèo đói và lạc hậu! Điều động một cuộc chiến thì dễ nhưng lãnh đạo một quốc gia rất là khó!..”. Ông kêu gọi toàn thể thế giới hãy giúp đỡ Việt Nam, trong đó có cả Mỹ!

Hơn cả triệu người Việt di tản ra ngoại quốc sau 75! Sau hơn 25 năm lưu vong số người ấy bây giờ hơn 3 triệu người, sống rải rác trên hầu hết 90 lãnh thổ quốc gia trên thế giới. Phần nhiều họ sống tập trung trên 3 quốc gia Mỹ, Pháp và Úc. Vì con nhà nghèo, đến từ quốc gia chậm tiến, mang trên lưng nhữ dấu vết của xiềng xích của thực dân đế quốc xa xưa! May thay, họ nhận từ cha ông khối óc sáng tạo. Tất cả người Việt đều kiên tâm nhẫn nại, cần cù làm ăn. Họ kiên tâm sáng tạo cho thế hệ mai hậu một chỗ đứng có thể đồng vai sát cánh ngẫng mặt lên cao với nhân loại! Họ đã và đang thành công trên quan điểm này. Có một sự kỳ diệu trong cộng đồng Việt tại hải ngoại là họ di tản ra khỏi tổ quốc ở những thời điểm khác nhau, với lý lịch khác nhau, nhưng tất cùng nhau đoàn kết góp sức kiên trì làm ăn. Lao động chân tay cũng như lao động trí thức, tất cả đều tập trung bồi dưỡng và mạnh dạn tin tưởng vào con đường học vấn của con em mình! Một bà mẹ có con Mỹ lai (Amerisian) đã nói với ông khi ông còn làm tư vấn học đường cho trường trình người Việt tại các trường cấp 3 tại Chicago:“ Xin ông giúp đỡ chỉ dạy cho cháu. Tôi tin rằng nhờ sư học hành trong tương lai cháu có thể đứng thẳng người trong xã hội Mỹ..” Ông tin chắc rằng bà mẹ không phải nói câu nói đó trong phút bốc đồng. Câu nói ấy phải là sự nghiền ngẫm với nổi băn khoăn không nguôi trong nhiều năm tháng!

Biến cố 1975 là một chấn thương tâm linh trong lòng người di tản ra hải ngoại. Người dân Việt rất kiêu hãnh về xứ sở, đất nước, không muốn xa rời tổ quốc! Dù ở đâu họ cũng hướng về đất mẹ ruộng đồng làng mạc ấp ủ lũy tre xanh. Di tản đến nước người, ngôn ngữ khác, tập quán khác, tư duy khác, khí hậu và môi trường sống hoàn toàn đổi khác. Cái gì cũng lạ lẫm! Tất cả bắt đầu lại từ đầu! Càng lớn tuổi, càng trí thức, những người càng có chỗ đứng cao trong xã hội Việt Nam trước 75, họ cảm thấy càng nhiều đau đớn trong cuộc đổi đời! Biến cố 30/4/75 như một cơn phong ba đi qua xứ sở. Loại cây hèn cỏ mọn không chịu ảnh hưởng, đôi khi lại tốt tươi hơn. Có lắm kẻ được thời thế bốc lên từ dưới đáy của xã hội. Những cây đại thụ bị trốc gốc dập vùi. Cái khó khăn, cái đụng chạm lớn nhất cho những người trí thức di tản đến nước người là ở chỗ thay đổi tư duy và bản ngã! Có lần ông hầu chuyện với một ông Trung tá Quân Đội Việt Nam Cộng Hòa, ông và gia đình đến Mỹ năm 1992 thuộc diện H.O. Ông đề nghị với ông Trung tá hãy suy nghĩ làm sao cho phù hợp với việc hội nhập:

- Xin Trung tá hiểu cho, ‘nhập giang tùy khúc’!

Ông trung ngã ngửa ra cười:

- Gớm thế! Phải thay đổi cả tư duy và bản ngã để hội nhập vào xã hội mới! Sau đó ông ta ra về, quên cả bắt tay ông!

Hội nhập vào văn hóa xứ người vẫn còn là vấn đề tù đọng cho cộng đồng Việt Nam sống trên nước Mỹ. Nước Mỹ là một quốc gia hợp chủng với nền văn hóa đa dạng. Sự khác biệt nhiều lúc nghiệt ngã cho cả đôi bên. Nhiều khi đã trở nên sức va chạm văn hóa (Cultural crash) gây nên những chấn thương cho cả đôi bên! Dĩ nhiên người di dân phải biết dung hòa: nhập gia tùy tục! Vấn đề uốn nắn không phải là dễ, nhất là để phù hợp với một nền văn hóa đa dạng như nước Mỹ. Một luật sư người Việt lưu vong, có nhận xét vô cùng xác đáng: “Người trí thức Việt Nam tại hải ngoại đang sa vào một cơn khủng hoảng trầm trọng. Nơi đa số chọn làm đất dung than, Hoa Kỳ, là một thế giới tạp chủng và đa văn hóa, khác ngôn ngữ và truyền thống dị biệt. Một Terra incognita. Nền văn minh của Mỹ năng động dựa vào khoa học kỹ thuật cởi mở và đề cao dân chủ và nhân quyền nhưng cũng thực tế tàn nhẫn, cạnh tranh không khoan nhượng, lỏng lẻo về gia đình nhân danh cá nhân và thường lấy sự thành công vật chất để đánh giá con người! Ở Đông phương văn hóa tạo ra sức mạnh. Tại siêu cường Hoa kỳ sức mạnh tạo ra văn hóa, văn hóa của sức mạnh đang thay đổi bộ mặt của địa cầu! Bởi thế, dễ hiểu vì sao trí thức Việt Nam hiện hoang mang về ngày mai của đất nước, hoài nghi chính mình, ngờ vực luôn cả xã hội nơi dung thân vì những giá trị tinh thần đạo lý cách mạng yêu nước đều bị cơn bảo táp chính trị quay cuồn đảo lộn…Đến nay phần lớn sáng tác của nền văn học lưu đày mang tính chất yếm thế và tiêu cực. Một danh từ mới “Văn học tuyệt vọng, literature du désespoir” được đem ra áp dụng..”

Ông rất là thích thú khi đọc đoạn văn trên. Ông kính trọng những nhận xét vô cùng thực tế của tác giả, nhưng ông có cảm giác buồn khi nghe “nền văn học lưu dày, văn học tuyệt vọng”. Nói như vậy nghe thật đáng thương tâm cho các nhá văn Việt Nam đang sống lưu vong tại hải ngoại. Bản thân ông, ông không có đủ cơ sở để đưa ra một nhận định như vậy. Phê bình và lý luận văn học đòi hỏi rất nhiều công phu học hỏi và tra cứu. Ông nhớ lại các tác phẩm của các nhà văn Việt Nam viết trên bước đường lưu vong của họ. Đọc “Nhà Tù”, “ Sàigòn Ngày Dài Nhất”, “Trại Tập Trung”của Duyên Anh, ông nghe tiếng thét phản kháng của một thanh niên yêu nước từ một quốc gia nhược tiểu bị thực dân và đế quốc áp bức. Đó là một hành động yêu nước tích cực! Đọc những tác phẩm của nhà văn Nguyễn Mộng Giác viết tại hải ngoại hay trên đường vượt biên: “Sông Côn Mùa Lũ”, “Mùa Biển Động”, “Ngựa Nãn Chân Bon” ông vẫn nghe lại lời vẫy gọi của tổ quốc. Qua đường hành văn của Nguyễn Mộng Giác ông thấy thấp thoáng bóng dáng của Romain Rolland, của Leon Tolstoi, những con người của muôn thuở, yêu chuộng hòa bình chống chiến tranh, xây dựng công bằng bác ái, xóa đói giảm nghèo, nêu cao tinh thần nhân loại. Ảnh hưởng tích cực của các nhà văn Nguyễn Mộng Giác, Duyên Anh và các nhà văn khác nữa ở trong nước cũng như ở hải ngoại thật sâu đậm trong tư tưởng của quần chúng!

Hiện tại ở trong nước các vết thương chiến tranh đã lên da lên thịt. Người người lo kiến thiết nước nhà. Những đau thương, những lầm lẫn vì chiến tranh đã lùi xa. Nhưng những nghĩa trang liệt sĩ của Quân đội Nhân dân còn đó, những nghĩa trang của quân đội Việt Nam Cộng hòa vẫn còn đây. Đó là thực tế đắng cay của quá khứ. Tên tuổi của những trại tù cải tạo tàn bạo, vô luân do Chuyên Chính Vô Sản dựng lên vẫn ám ảnh lòng người trong nước và hải ngoại. Hởi người Cộng sản Việt Nam, cả nước đang chờ đợi lời tự thú của các anh! Hãy quay đầu về với tổ quốc, từ bỏ Chuyên Chính Vô Sản, phải xây dựng tự do, dân chủ cho mỗi mái nhà, cho mỗi người dân, phải nhìn nhận quyền tư hữu của của mọi người, dựng lại niềm tin yêu với nhau! Sau gần 30 năm thắng Mỹ, tổ quốc chưa thống nhất, Bắc và Nam, Cộng Sản và Quốc gia, ai ai cũng thủ thế! Trong khi đó, nhân dân quyết tâm bảo vệ hòa bình, theo đuổi một đời sống bình thường, một đời sống có hòa bình trường cửu, có tình cảm xôn xao giao động, có hạnh phúc có khổ đau, có thất vọng đan xen với hy vọng, một đời sống bình thường có trái tim bộ óc.

Ông ôm lap top, ông viết từ lúc đỏ đèn đến bây giờ. Ông tự hào, tự mình đã xuyên qua những vấn đề của đề án nghiên cứu. Hơn thế nữa ông có cảm tưởng ông hoàn tất bài tham luận về những thành quả nghiên cứu. Ông cũng nhận thấy những việc làm của ông còn thiếu tính chất tổng quan vì những nghiên cứu của ông giới hạn với một số cộng đồng ở Mỹ, ở Chicago. Ông chưa một lần thăm Pháp, Châu Âu, hay châu Úc, hoặc trở về Việt Nam tìm hiểu thực tế, con người và xã hội. Tuy nhiên, qua những tác phẩm văn học xuất bản ở trong nước sau thời‘cởi trói’ ông đọc gần đây, ông nhận thấy có cởi mở thật sự. Lần đầu tiên anh em văn nghệ trong nước vượt hệ thống kềm kẹp của chuyên chính, mặc nhiên công nhận có mâu thuẩn trong bản thân của xã hội xã hội chủ nghĩa: Giang Minh Sài, một nhân vật của Lê Lựu trong “Thời Xa Vắng” (xuất bản 1986), nạn nhân của bao oan khiên mâu thuẩn ấy! “Thời Xa Vắng” nếu phải thật sự xa vắng cũng cho cam! Không, nó mới toanh! Nó là câu chuyện xảy ra tại một làng ở miền Bắc xã hội chủ nghĩa vào năm 1985! Lê Lựu là một nhà văn diễn đạt tư tưởng rất có hệ thống. Điều làm cho ông thích thú nhất, là khi ông đọc các tác phẩm của: Nguyễn Khải “Hà Nội Trong Mắt Tôi”, Nguyễn Minh Châu “Dấu Chân Người Lính”, Chu Lai “Vòng Tròn Bội Bạc”, “Ăn Mày Dĩ Vãng”, Bảo Ninh: “Nỗi Buồn Chiến Tranh” và các tác phẩm của các nhà văn khác như Ma Văn Kháng, Mai Văn Tạo, Hồ Tĩnh Tâm..v.v…Sau khi đọc họ xong, thường vào những đêm khuya vắng, ông tự nhủ: “Phải chứ, chúng ta phải ngồi lại với nhau, cùng nhau phân tích lại quá khứ, gạn đục khơi trong. Không ai có quyền bảo chân lý và lẽ phải là của riêng mình. Ít ra chúng ta phải công bình với lịch sử, một việc làm rất cần thiết cho đất nước hôm nay và mai sau!

Ông thấy mình vừa đi ngang thư viện John F. Kennedy thuộc đại học Boston, Massachusetts. Ông nhớ nơi đây năm 1996 ông đã đến tham dự và đồng thời tổ chức hội thảo (panel) cùng các thầy giáo người Mỹ, gốc Á châu. Lúc ấy ông là Chủ tịch Cố vấn hội phụ huynh học sinh tại Chicago. Ông đi thẳng vào Education Department của Massachusetts University. Ông ngôi đối diện với 2 người phỏng vấn ông. Họ là hai người đầu não của chương trình William Joiner. Hai người này rất thích thú khi đọc hồ sơ đăng ký của ông. Có thể nói họ không hề phỏng vấn ông. Họ và ông nói chuyện về tương lai của cộng đồng người Việt tại hải ngoại, nhất là trên đất Mỹ, những cố gắng phi thường của cộng đồng Việt Nam trong việc hàn gắng những vết thương chiến tranh, phấn đấu xây dựng lại diện mạo quê hương ở hải ngoại. Họ đề cao thành quả nghiên cứu của ông. Họ hứa sẽ tài trợ cho ông về thăm lại Việt Nam, cả ba miền đất nước. Họ sẽ can thiệp với chính phủ trong nước, cho ông tiếp xúc và tổ chức hội thảo các sinh viên các trường đại học! Ông cũng mong muốn trong dịp này ông gặp những nhà văn trong nước mà ông hằng mơ ước!.. Ông rất sung sướng và coi đây như một chuyện mạn đàm thoải mái, cởi mở và xây dựng. Trong suốt chiều dài gần 25 năm lưu vong, ông chưa hề có những phút giây sung sướng và thoải mái như vậy.

Chợt một bàn tay nắm chặc và lay mạnh vai ông. Ông tỉnh lại. Ông ngước mặt nhìn lên thấy bà ràn rụa nước mắt:

- Anh! Anh đăng ký làm việc cho chương trình William Joiner thật sao anh? Anh quyết định xa em thật sao anh? Anh có đọc kỷ chương trình không anh? Họ đòi hỏi anh ở nội trú đại học ít nhất ba tháng trong một kỳ! Anh 70 tuổi rồi sao anh hành hạ anh dữ vậy! Ngoài ra anh phải thường trực tham gia thuyết trình mà thính giác của anh đã suy sụp nặng quá! Anh đâu còn nghe được! Anh định bỏ em ở đây một mình sao anh? Anh không thực tế tí nào. Em nghĩ anh đâu có nhẫn tâm với vợ con dữ vậy! Đại học Massachusetts đâu có chịu nhận anh vì anh đâu còn khả tiếp thu và đối thoại linh hoạt được! Anh đâu còn nghe được!

Những lời bà nói kéo ông ra khỏi cơn mơ. Bà cho ông biết là bà đứng sau lưng ông hơn nửa giờ, bà đọc tất cả những gì ông viết mê mệt từ chiều! Bà choàng tay trên vai ông bà tiếp tục:

- Anh mơ được Đại học Massachusetts bảo trợ cho anh về Việt Nam nghiên cứu thực tế sao anh? Anh có biết chính phủ Cộng sản Việt Nam họ nhìn anh dưới cặp mắt như thế nào không? Anh đã chung sống với Cộng sản mà anh quên rồi sao anh? Em cứ nghĩ những vết thương tâm của anh vẫn còn rướm máu! Họ sẽ bảo anh là tay sai, là tình báo của Mỹ! Họ đâu có tin anh! Anh đã có một thời chịu đựng đắng cay như vậy mà! Anh đã là một tên chăn cừu nằm mơ thấy mình lấy được con gái của ông chủ, sáng ra tỉnh dậy mới biết đêm qua mình chỉ ngủ với con ở!..Và cho rằng anh được toại nguyện như anh muốn: anh về Việt Nam, anh đi tiếp xúc nhiều người, nhiều nơi, anh thấy có những tiến bộ về kinh tế, tôn giáo và nhân quyền v.v…Khi về Mỹ anh phải trình bày những sự thật trước cộng đồng Việt Nam tại Mỹ! Anh có biết có những người họ sẽ bảo anh là tay sai của cộng sản, là tên đặc công, là quân trở cờ! Khó lắm anh! Nguy hiểm lắm anh! Anh có biết những người quốc gia chân chính yêu nước lưu vong như anh đang sống giữa rừng gươm không anh? Rủi anh có mệnh hệ nào làm sao em chịu nổi! Em lúc nào cũng cần có anh bên cạnh! Anh thương em chớ anh! Em không muốn em là góa phụ ở tuổi 50-52 đâu anh!..Bà ôm vai ông, bà cúi xuống ôm hôn mái tóc bạc của ông, bà khóc như một trẻ thơ!

Ông đưa hai tay nắm lấy tay bà. Những lời bà nói đã đánh thức ông! Ông ân hận. Ông xin lỗi bà, vô tình ông đã làm bà buồn! Ông nhận thấy gần 30 năm sau chiến tranh mà cuộc sống của ông vẫn còn khốn đốn, vẫn bị vây bủa mọi mặt! Ông cảm thấy ông đang đi quờ quạng trong hành lang đen tối! Gần 70 mà vẫn chưa biết mình là ai!..

Bà đưa tay đỡ ông đứng dậy, bà nói vào tai ông:

- Bốn giờ sáng rồi, đi ngủ đi thôi! Anh làm việc phí sức thế này làm sao anh có thể thọ được đến 90 như anh mơ ước được như Ba anh! Anh cả đời cưu mang lắm việc để rồi khổ lụy vì lý tưởng của mình!

Ông về phòng ngủ. Bà kéo chăn đắp lên tấm thân suy tàn của ông. Ông cảm thấy người ông ấm lại. Niềm tin yêu xa xưa lẫn khuất len lỏi trở về! Trong giấc ngủ đêm hôm ấy ông thấy hoả châu sáng đầy trời ở miệt Cái bè. Ông trăn trỡ vì Sàigòn vẫn còn chiến tranh. Ông nghe bà vuốt lưng ông và nói vào tai ông: “Chiến tranh đã qua lâu rồi. Đó là pháo bông chào mừng tết Giáp Thân”. Khuya đêm ấy có ai biết được vì sao có một lão già lưu vong, ngủ dưới tuyết lạnh của Chicago mà cảm thấy lòng mình ấm cúng với một giấc mơ về đất nước, những ngày hòa bình./.

ĐÀO NHƯ

Feb.5th 2004/Giáp Thân

Oak park, Ill. USA

Bác sĩ Đào Trọng Thể

Địa chỉ thư điện tử này đã được bảo vệ khỏi các chương trình thư rác, bạn cần bật JavaScript để xem nó

 

Viết lời bình luận


Mật mã
Cập nhật