CÁNH ÉN ONLINE

Tổ chức dân chủ Việt Nam chủ trương và thực hiện

Friday, May 18th

Last update07:06:20 AM GMT

Headlines

NGƯỜI LÍNH

Thư điện tử In PDF
Đánh giá của người đọc: / 2
DởHay nhất 

 


NGƯỜI LÍNH

 

 

Duy Nhân

 

Bây giờ là những ngày cuối Đông nhưng ở Chicago năm nay trời vẫn còn rất lạnh. Mỗi khi lạnh như thế này, tôi thấy nhức ở đùi bên phải, nơi vẫn còn ghim những mảnh đạn trong một lần chạm súng với địch ở miền Tây năm 1972. Vết thương chiến tranh tuy có nhức nhưng không bằng cái nhức nhối trong hồn khi nghe tin có kẻ tuyên bố vô trách nhiệm rằng những cựu quân nhân VNCH chúng ta là những người vô dụng và mới đây, ngay tại địa phương này, trong đặc san Xuân của một Hội ái hữu lại có đăng bài của một kẻ bịa chuyện “một thanh niên leo hái ổi bị hai tên lính cá cược bắn rơi xuống chết tức tưởi” để nói xấu người lính và nhục mạ quân đội VNCH chúng ta.

 

Cho đến nay, các“ chính khách”, các giới truyền thông, báo chí ở Mỹ và Châu Âu đã viết trên 1200 quyển sách, hàng ngàn bài báo, kể cả phim ảnh nói lên sự thật thì ít mà xuyên tạc lịch sử, bôi nhọ cuộc chiến đấu chánh nghĩa của chúng ta thì nhiều.

 

Phải trả sự thật về cho lịch sử ! Việc xác định lại chân dung đúng thật của người lính VNCH trong lúc này là điều cần thiết.

 

Đã từ lâu người ta vẽ chân dung chúng ta một cách sai lệch và bất công. Có lúc chúng ta được mô tả là những chàng trai lôi thôi, lếch thếch, từ tiền tuyến trở về hậu phương, về thành phố nhậu nhẹt, say sưa, chưởi thề, đập phá để chỉ nhận được cái nhìn lạnh lùng, khinh bỉ của người dân. Cũng có lúc họ vẽ chân dung chúng ta là những chàng trai hào hoa, phong nhã, mặc áo trận ủi hồ thẳng nếp, chân mang giày sô bóng láng, cùng nắm tay các cô má đỏ, môi hồng, ca bài “ Anh Tiền Tuyến, Em Hậu Phương” mà không biết đó là những lời đầu môi chót lưỡi. Tất cả hình ảnh đó không phải là thật ! Hình ảnh thật của người lính chúng ta là ở nơi tuyến đầu lửa đạn., trên khắp bốn vùng chiến thuật, trên mọi nẻo đường đất nước: lúc thì Năm Căn, Cà Mau, lúc thì Kiến Phong, Kiến Tuờng, Rạch Giá… Ở đó , từ sáng tinh mơ cho đến chiều tối, không có lúc nào mà bộ đồ trận chúng ta mặc trên người được khô ráo. Hết hành quân truy lùng đến hành quân giải vây, tiếp tế. Hết lội ruộng, chúng ta lại băng rừng. Nào rừng đước, rừng tràm, rừng lá. Có lúc chúng ta hợp đồng tác chiến, có lúc chiến đấu một mình ở trong rừng cả tháng không thấy ánh mặt trời. Giã từ miền Tây, ta lại ra Trung., nơi địa đầu giới tuyến, nơi hoàn toàn xa lạ để rồi bỏ thây ở đó cho những nơi này thành ra nổi tiếng: Cổ thành Quảng Trị, Tống Lê Chân, Bình Long, An Lộc, Khe Sanh, Hạ Lào… Có những lúc chúng ta phải sống ở địa đạo, chịu đựng mỗi ngày từ tám ngàn đến mười ngàn quả đạn pháo ! Nào ai có biết ? Chúng ta uống nước rễ cây, ăn hoa lá , côn trùng để cầm cự với địch là chuyện bình thường. Trong khi đó, có một hạng người thành phố vẫn sống trong nhà cao, cửa rộng, nệm ấm chăn êm, ném tiền qua cửa sổ, ăn chơi trụy lạc thâu đêm suốt sáng, nơi vũ trường, phòng trà, tửu quán. Họ không hề biết chiến tranh là gì, làm như chiến tranh là chuyện riêng của chúng ta, không liên can gì đến họ. Đã thế, lâu lâu họ còn bày trò biểu tình để đòi “quyền sống”, họ mang bàn thờ Phật xuống đường đề đòi “ tự do tôn giáo”, ký giả thì làm bộ “ đi ăn mày “. Mục đích của họ là lợi dụng tự do, dân chủ để gây rối hậu phương, để làm khổ chúng ta. Khi chúng ta kéo quân về để giữ an ninh, trật tự đường phố thì tiền tuyến bị bỏ ngỏ cho địch lấn chiếm. Giờ này thì họ ở đâu ? Sao không đòi quyền sống, đòi tự do tôn giáo, tự do báo chí, dân chủ và nhân quyền cùng với đồng bào trong nước ? Các ký giả nếu còn ở Việt Nam thì chắc là họ đang đi ăn mày thật sự vì họ đâu được quyền ra báo, đâu được quyền cầm bút để viết lên sự thật theo lương tâm của mình. Nếu những người này còn có lương tâm để phản tỉnh chắc là họ thương chúng ta lắm nhưng rất tiếc, điều đó đã quá muộn màng !

 

Trong hơn hai mươi năm dài, kể từ lúc người anh em phương Bắc theo chủ nghĩa ngoại lai, cầm vũ khí của Nga, Tàu và khối Cộng trao cho để xâm nhập, phát động chiến tranh “nhân dân”, chiến tranh “giải phóng” hầu nhuộm đỏ Miền Nam thì người lính chúng ta chưa hề có được một giấc ngủ bình yên vì có ngày nào mà bom không nổ, đạn không rơi trên lãnh thổ Miền Nam ? Chúng ta cũng là những người không có mùa Xuân. Nhiệm vụ của chúng ta là phải ôm súng, đứng gác nơi tiền đồn để canh giữ mùa Xuân  cho đồng bào. Mùa Xuân chỉ đến với người lính bằng cánh mai rừng nở muộn ! Chỉ có mùa Xuân năm Mậu Thân vì quá tin vào thỏa hiệp hưu chiến của phía bên kia mà chúng ta buông lơi tay súng. Lợi dụng dịp đó, địch bất ngờ đồng loạt tấn công vào các thành phố, thị xã Miền Nam, gây tang thương, chết chóc cho biết bao dân lành vô tội. Chúng ta phải chịu nhiều hy sinh, mất mát và phải vất vả lắm  mới giành lại thế chủ động, đẩy lui địch ra khỏi các đô thị, cắm lại ngọn cờ chánh nghĩa quốc gia trên thành phố Huế sau 28 ngày đêm bị địch chiếm và gây ra một tội ác trời không dung, đất không tha khiến cho vạn vật phải ngậm ngùi, quỷ thần phải rơi lệ : 5000 quân, dân, cán, chính bị hành hình hoặc chôn sống ở những hố chôn tập thể !

 

Thật ra, chúng ta đâu chỉ biết có mỗi một việc là cầm súng. Có nhiều lúc còn phải tay súng, tay cày hoặc vai mang súng, tay cầm liềm gặt lúa phụ giúp người nông dân trong viêc đồng áng. Lúc thì  khám bệnh., phát thuốc cho đồng bào, lúc làm thầy giáo dạy học.Tất cả đã tạo nên một hình ảnh rất đẹp trong lòng người dân khiến cho ta đến thì dân mừng, ta đi thì dân nhớ. Những lúc giặc tràn về thôn xóm thì người dân bỏ chạy tìm về phía chúng ta để được bảo vệ, chở che, thắm đượm tình “ quân dân cá nước”. Thế rồi “ Mùa Hè đỏ lửa” lại đến. Tháng 5 năm 1972 giặc chiếm Quảng Trị. Lần này thì cả dân và quân cùng chạy. Quốc lộ 1 phía Nam Quảng Trị đã biến thành “đại lộ kinh hoàng”, xa lộ tử thần. Hàng ngàn trái pháo 130 ly, hỏa tiển 122 ly như mưa rơi rải trên đầu người dân. Trong cơn hoảng loạn, người lính vẫn bình tĩnh tay dắt trẻ thơ, tay dắt cụ già chạy trong mưa pháo, dùng chính thân xác mình che chở cho dân. Vậy mà 14 ngày sau, lá cờ vàng ba sọc đỏ lại ngạo nghễ tung bay trên cổ thành Quảng Tri đã được chúng ta tái chiếm! Thử hỏi trên thế giới có người lính nào hào hùng hơn chúng ta, lại chịu nhiều hy sinh, gian khổ, đắng cay, tủi nhục như chúng ta ? Chính nhờ quân lực VNCH mà đồng bào miền Nam được sống hai mươi năm thanh bình thịnh vượng, tự do, dân chủ. Nhưng thật bất ngờ ! Từ tháng 3 năm 1975, chúng ta như người mộng du, cầm súng chết trân, đứng nhìn đất nước từ từ bị nhuộm đỏ : Từ Ban Mê Thuột đến Huế, Đà Nẵng, Pleiku, KonTum, Cam Ranh, Nha Trang. Đến 10 giờ 45 phút sáng ngày 30/4/1975 thì chúng ta được lệnh buông súng ! Trước đó, chúng ta đã nghe thấy các danh từ  “Rút lui chiến thuật”, “ tái phối trí ” mà không hiểu gì cả. Chúng ta chỉ thấy cấp chỉ huy trực tiếp của mình bỏ vị trí, lui về phía sau, khiến chúng ta hoang mang, kinh ngạc, mất phương hướng, mất hàng ngũ nhưng vẫn còn cầm súng làm chậm bước tiến quân thù để cho cấp chỉ huy an toàn trên đường trốn chạy! Vậy mà những kẻ không có lương tri lại phê phán chúng ta không chịu chiến đấu. Nếu chúng ta không chiến đấu thì người nông dân đâu có đất để cày, người công nhân đâu còn nhà máy, xí nghiệp, người thành thị đâu có không khí tự do để thở và những kẻ cơ hội đâu có dân chủ để mè nheo, ăn vạ, làm trận làm thượng với nó. Nếu chúng ta không chiến đấu thì các “bà lớn” đâu còn môi trường để áp phe, mua quan , bán chức, đánh bài với nhau, chung bằng giá của từng thanh niên trốn quân dịch, một số ông tướng đâu được bình yên để tham nhũng, buôn lậu, cắt xén tiền viện trợ nước ngoài, ăn chận tiền lương của lính, liên tục đảo chánh lẫn nhau để tranh quyền đoạt lợi. Cho đến khi đất nước tiêu điều, kiệt quệ, viện trợ bị cắt, không còn gì để cho họ tranh giành với nhau nữa thì họ cùng với vợ con và tài sản tham nhũng, bỏ chạy ra nước ngoài, vứt lại cho chúng ta các tín niệm Danh Dự-Tổ Quốc-Trách Nhiệm mà họ đã một lần tuyên thệ trung thành. Trong thế hoàn toàn tuyệt vọng, người lính vẫn tiếp tục cầm súng đánh địch trong những trận cuối cùng. Chỉ bằng M16, lựu đạn, chai xăng châm lửa, anh em ta đã xung phong tiêu diệt chiến xa T54 của địch khi chúng tiến đến cầu Thị Nghè, tìm đường vào thành phố. Thay vì buông súng, cởi bỏ áo lính trở về với gia đình thì nhiều tướng lãnh đã chọn cho mình cái chết lãng mạn, hào hùng để đền nợ nước như Lê văn Hưng, Nguyễn Khoa Nam, Lê Nguyên Vỹ, Trần văn Hai và nhiều chiến sĩ vô danh khác.

 

Trận Khe Sanh địch đã vây hảm và tấn công người bạn đồng minh Hoa Kỳ và tiểu đoàn 37 Biệt Động Quân của chúng ta suốt 77 ngày đêm bằng lực lượng đông gấp 5 lần, hầu biến nơi này thành một Điện Biên Phủ thứ hai, nhưng cuối cùng đã thất bại. Vậy mà một nhá báo Mỹ phản chiến đã viết đạn pháo của quân chủ lực miền Bắc vừa giội xuống Khe sanh đã rơi ngay vào thủ đô Washington. Trong trận Mậu Thân 1968, chúng ta tiêu diệt hơn 58.000 quân địch, hầu hết các hạ tầng cơ sở địch bị phá hủy, tổn thất địch cao gấp 10 lần chúng ta. Nhưng dưới con mắt của những kẻ phản chiến, dưới luận điệu của các hãng thông tấn và ngòi bút của ký giả nước ngoài thì chúng ta đã thua vì đã để địch mang chiến tranh vào tận thủ đô, đại diện uy quyền của nước Mỹ là tòa đại sứ ở Saigon đã bị tấn công. Sự thật đó chỉ là một vở kịch, một âm mưu , một cái cớ để người bạn đồng minh tính chuyện rút chân ra khỏi ”vũng lầy Việt Nam”. Từ 13/5/1968, người bạn đồng minh và địch bắt đầu đàm phán. Đến ngày 27/1/1973 thì lãnh đạo của chúng ta bị ép buộc ký cái gọi là Hiệp định Paris chấm dứt chiến tranh và lập lại hòa bình tại Việt Nam để cho người bạn đồng minh rút lui một cách danh dự, kẻ thù thì hả hê vì đã không thắng được chúng ta trên chiến trường nhưng lại thắng trên bàn hội nghị, còn chúng ta thì bị bán đứng và điều gì đến thì nó đã đến!

 

Trong lúc cả thế giới ngoảnh mặt làm ngơ, trong lúc người bạn đồng minh và địch nhận giải thưởng Nobel về hòa bình Việt Nam thì chúng ta lặng lẽ từ giã bạn bè, người yêu, cha mẹ, vợ con để đi “học tập”. Hành trang lên đường lần này chỉ ít thức ăn, năm ba bộ đồ cho mười ngày hoặc một tháng. Vậy mà chúng ta đã ra đi biền biệt, có người phải cần đến mười mấy năm trời mới tiếp thu được ý nghĩa một danh từ đơn giản của Cộng sản mà cả thế giới loài người không nghĩ ra được: Học tập có nghĩa là tù khổ sai!. Ngày cầm được giấy ra trại thì đầu ai cũng bạc trắng, bước đi xiêu vẹo. Mọi người nhìn chúng ta như kẻ xa lạ từ hành tinh nào trở về trái đất. Phải khó khăn lắm, ta mới tìm được căn nhà của mình. Đau đớn thay, người ra đón ta không phải là vợ con mà là một anh Bắc kỳ nón cối, xua đuổi ta như kẻ ăn mày. Thì ra nhà của ta đã bị chiếm đoạt, vợ con ta bị đuổi đi “ kinh tế mới”. Lại một danh từ xa lạ nữa mà chúng ta chưa từng nghe nói tới. Thì ra kinh tế mới là nơi khô cằn sỏi đá hoặc nơi rừng rú thâm u hay nơi đầm lầy nước đọng, nơi chưa từng in dấu chân người. Vợ con ta phải tới đó như ông cha ta từ ngàn năm trước khi mới bắt đầu mở cõi, phải khai quang, lấy đất, xẻ gỗ làm nhà, đốt rừng làm rẫy, lấp đầm sâu làm ruộng để hiểu câu “lao động là vinh quang”. Cũng có khi nhà ta vẫn còn nhưng ta chỉ được “tạm trú” một tháng, sau đó phải đi ra khỏi thành phố. Thành phố chỉ dành cho những kẻ ở trong rừng chui ra hoặc từ miền Bắc tràn vào.

 

Với chứng chỉ cải tạo và nhãn hiệu ngụy quân, chúng ta không xin việc ở đâu được cả. Nhiều người phải đạp xích lô chui để nuôi vợ nuôi con, kiếm sống qua ngày. Chui có nghĩa là lén lút, là bất hợp pháp vì ta đã mất quyền công dân, quyền làm người, nhất là người thành phố. Giữa lòng thành phố thân yêu thì ta ngơ ngơ, ngác ngác. Thành phố của ta đã bị đổi tên. Các con đường thân quen ngày trước cũng bị đổi tên lạ hoắc. Nào là Đồng Khởi, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn thị Minh Khai, Huỳnh văn Bánh, Trần văn Bơ v.v… Những Tự Do, Công Lý của chúng ta đã  biến mất.!

 

Cho đến khi tới được các nước tự do bằng con đường HO hoặc vượt biển thì người lính chúng ta đã mất mát quá nhiều, chỉ còn lại hai bàn tay trắng và phải làm lại từ đầu. Chúng ta lại phải tiếp tục cuộc chiến mới, cũng gay go và không kém phần nghiệt ngã nơi xứ người. Chúng ta đã không từ chối bất cứ công việc lương thiện nào, dầu được xem là hèn mọn nhất như lao công ở chợ, làm vệ sinh trong bệnh viện , trường học, đi giao ‘bi-zà’ các nơi… Vậy mà không ít người đã bị sát hại vì cạnh tranh nghề nghiệp ! Ban ngày đi làm, tối về đi học. Đầu bạc chen lẫn đầu xanh trong cùng lớp học, chỉ mong tiếp thu được phần nào hay phần đó kiến thức mới để mau hội nhập vào xã hội mới. Thắm thoát mà đã hơn ba mươi năm ! Bây giờ thế hệ một rưởi và thế hệ thứ hai là con cháu chúng ta đã trưởng thành và có thể nói là thành công nơi xứ người : Là phụ tá bộ trưởng, là dân biểu, nghị viên, là chánh án, bác sĩ, luật sư, giáo sư, kinh tế gia, khoa học gia. Không một lãnh vực nào mà không có mặt con em chúng ta. Đó là niềm hãnh diện của đồng bào tỵ nạn nói riêng và người Việt  nói chung.

 

Trong ba thập kỷ qua, song song với việc yểm trợ công cuộc đấu tranh đòi tự do, dân chủ và nhân quyền của các nhà dân chủ, người lao động và dân oan trong nước, người lính VNCH  vẫn miệt mài cùng với đồng hương tỵ nạn đấu tranh, ngăn chận có hiệu quả sự xâm nhập của Cộng sản vào cộng đồng chúng ta dưới nhiều hình thức. Những cuộc trình diễn văn nghệ do Cộng sản dùng diễn viên trong nước dể tuyên truyền cho chế độ đã bị ngăn chận đúng lúc, những cuộc viếng thăm của các lãnh đạo Cộng sản Việt Nam ở Mỹ và các nơi trên thế giới đều bị chúng ta biểu tình đả đảo, tố cáo và vạch trần bản chất gian manh và tội ác của chúng trước dư luận thế giới. Gần đây nhất, trong lúc nhà cầm quyền Cộng sản đàn áp dã man các cuộc biểu tình của đồng bào trong nước chống bọn bành trướng Bắc Kinh âm mưu hợp thức hóa việc xâm chiếm hải đảo Hoàng sa và Trường sa của chúng ta thì ở hải ngoại trên toàn thế giới nơi nào có tòa đại sứ Trung Cộng, đồng bào và chiến sĩ ta đều tổ chức biểu tình phản đối nhà cầm quyền Trung cộng; đồng thời lên án nhà cầm quyền Cộng sản Việt Nam đã phản bội Tổ quốc, dâng đất, dâng biển cho ngoại bang chỉ vì quyền lợi, địa vị của các cá nhân trong đảng, đã hèn nhát không dám lên tiếng mà còn ngăn cản không cho người dân bày tỏ lòng yêu nước của mình.

 

Cũng trong ba thập kỷ qua, người lính chúng ta cùng với đồng hương không ngừng tranh đấu để bảo vệ sự diện diện và ý nghĩa lá cờ vàng ba sọc đỏ, là gia sản còn lại của người lính, là biểu tượng của tự do, dân chủ của đồng bào tỵ nạn khắp nơi trên thế giới. Riêng tại nước Mỹ, đã có hàng chục tiểu bang, hàng trăm thành phố ra nghị quyết cộng nhận lá cờ của chúng ta.

 

Hy vọng một ngày không xa, người lính chúng ta sẽ trở về nghiêm chào lá quốc kỳ và hát bài quốc ca trên quê hương yêu dấu !

 

 

 

Viết lời bình luận


Mật mã
Cập nhật