CÁNH ÉN ONLINE

Tổ chức dân chủ Việt Nam chủ trương và thực hiện

Friday, May 18th

Last update07:06:20 AM GMT

Headlines
You are here CHÍNH SÁCH CẢI TỔ BẢO HIỂM Y TẾ Liệu chính sách Obama cũng sẽ thất bại như kế hoạch Clinton?

CHÍNH SÁCH CẢI TỔ BẢO HIỂM Y TẾ Liệu chính sách Obama cũng sẽ thất bại như kế hoạch Clinton?

Thư điện tử In PDF
Đánh giá của người đọc: / 15
DởHay nhất 

CHÍNH SÁCH CẢI TỔ BẢO HIỂM Y TẾ

Liệu chính sách Obama cũng sẽ thất bại như kế hoạch Clinton?

Mai Loan

Lời người viết: Chính sách cải tổ bảo hiểm y tế là một đề tài lớn chiếm sự quan tâm của đa số người dân Hoa Kỳ vì đã ảnh hưởng đến sự an nguy và túi tiền của hầu hết mọi gia đình, dù đang có hay không có bảo hiểm sức khoẻ. Hoa Kỳ vẫn còn mang một thành tích xấu hổ vì là quốc gia duy nhất trong khối các nước tiên tiến và giầu mạnh trên thế giới nhưng lại không cung cấp được bảo hiểm y tế cho mọi người dân trong nước. Cả hai ứng cử viên tổng thống phe Dân Chủ trong năm 2008 đã không ngần ngại đưa ra lời hứa sẽ cải tổ bảo hiểm y tế nếu như được đắc cử và đa số cử tri đều ủng hộ. Nhưng dự tính cải tổ của TT Obama đang gặp nhiều trở ngại khi chưa được thông qua sớm sủa như dự trù lúc ban đầu. Ngoài sự chống đối cương quyết của thành phần bảo thủ thuộc đảng Cộng Hoà, cũng còn có sự ngần ngại của nhiều vị dân cử phe Dân Chủ nhưng theo khuynh hướng độc lập hoặc bảo thủ. Cùng lúc đó, nhiều thế lực khác từ những nhóm có quyền lợi riêng cũng lợi dụng thời cơ để nhảy vào tấn công hoặc gây hoả mù để mong cho đạo luật cải tổ không được thông qua, trong khi đa số dân chúng vẫn còn hoang mang hoặc chưa hiểu tường tận vấn đề trước quá nhiều luận cứ khác nhau. Loạt bài này nhằm phân tích nhiêàu khía cạnh để tìm hiểu rõ hơn vấn đề hầu cống hiến cho người đọc nhiều kiến thức đa dạng và chính xác trên một hồ sơ rất phức tạp.

Giống như nữ nghị sĩ liên bang Olympia Snowe đại diện cho tiểu bang Maine đã từng nhận định rằng vấn đề bảo hiểm y tế tại Hoa Kỳ là một đề tài hết sức phức tạp và rắc rối để có thể hiểu rõ và giải thích được trong một vài phút ngắn ngủi, đa số người dân tại Hoa Kỳ cũng tự biết mình chưa hiểu rõ về hồ sơ này. Do đó, hồ sơ cải tổ kế hoạch này chắc chắn sẽ còn rắc rối bội phần, gây nhức đầu cho nhiều chuyên gia cũng như các chính trị gia và các nhà dân cử.

Nhà báo Stanley Greenberg, trong một bài viết đăng trên tạp chí The New Republic đề ngày 1 tháng 7 vừa qua với tựa đề “Why health care reform could fail again.” (Vì sao kế hoạch cải tổ chăm sóc y tế có thể thất bại lần nữa?), đã kể lại những kinh nghiệm thương đau còn để lại sau khi ông đã tham dự trong nỗ lực này dưới thời TT Bill Clinton. Vào lúc đó, ông là một chuyên viên lo thực hiện những cuộc thăm dò dân ý, và đã tràn trề hy vọng về viễn tượng thành công với sự ủng hộ của đông đảo quần chúng tin tưởng vào một sự đổi mới, nhất là sau khi ông Clinton đọc một bài diễn văn trước lưỡng viện Quốc Hội vào năm 1993 để đẩy mạnh kế hoạch cải tổ này.

Lần này, ông Greenberg cũng có dịp nhìn qua những kết quả của vài cuộc thăm dò dân ý gần đây liên quan đến hồ sơ cải tổ bảo hiểm y tế này. Cũng giống như lần trước đã xảy ra khoảng 16 năm về trước, nhiều người dân Mỹ tin tưởng rằng đất nước này sẵn sàng đón nhận những chính sách đổi mới có tính cách táo bạo. Có ít nhất là 1/4 dân chúng ở Hoa Kỳ cho rằng hệ thống bảo hiểm y tế ở Mỹ “có quá nhiều vấn đề khiến chúng ta nên cần thay đổi hoàn toàn”; còn phân nửa dân chúng thì cho rằng hệ thống này cũng có “nhiều điểm tốt đẹp” nhưng họ vẫn tin rằng cần có những cải tổ sâu rộng. Điều hơi mâu thuẫn là tuy có đến 60% dân chúng không hài lòng với chính sách bảo hiểm y tế hiện hành, nhưng lại có đến gần 3/4, khi được hỏi về chính chương trình bảo hiểm y tế cho cá nhân họ, thì cho rằng mình bằng lòng với nó.

Điều đáng ngại hơn nữa, theo ông Greenberg, là tỉ lệ ủng hộ của người dân đối với những kế hoạch cải cách. Mặc dù ảnh hưởng của ông Ronald Reagan đã phai nhạt với thời gian (khi hô hào rằng chính phủ chẳng giúp ích gì thực sự cho đời sống của người dân), nhưng hiện nay vẫn còn nhiều người tỏ ra ngần ngại khi nói đến việc tin tưởng vào khả năng của chính phủ có thể cải thiện được hệ thống bảo hiểm y tế. Gần như dân chúng tại Hoa Kỳ chia đều thành hai phe trong cuộc tranh luận giữa một bên nói rằng giữ nguyên tình trạng “vẫn như cũ” sẽ dẫn đến nhiều rủi ro tệ hại hơn, và bên kia thì cho rằng những dự án cải tổ của chính phủ bao giờ cũng đem đến nhiều vấn đề nhức đầu khác. Tuy nhiên, ông Greenberg vẫn cho rằng trên nhiều câu trả lời của người dân, người ta có thể cảm nhận được rằng ước muốn có thay đổi và sự ủng hộ cho kế hoạch cải tổ lần này có phần mạnh hơn chút xíu so với thời điểm của 16 năm về trước.

Một trong những điều lo ngại lớn nhất của người dân là vấn đề chi phí phải bỏ ra cho một kế hoạch cải tổ. Vào lúc đó, chính quyền Clinton vừa mới đạt được một ngân sách mới với nhiều khoản tăng thuế khá cao, do đó các viên chức chính quyền biết rằng họ sẽ khó lòng thuyết phục giải pháp tăng thêm thuế để có đủ tiền trang trải chi phí cho kế hoạch cải tổ. Kế hoạch của chính quyền lúc bấy giờ nhắm đến việc kiểm soát mức độ canh tranh (managed competition), thiết lập những liên minh địa phương (health alliances) trong việc cung ứng dịch vụ y tế, giới hạn việc tăng cao bảo-hiểm-phí và ấn định một ngân sách toàn quốc cho chi phí y tế. Tuy nhiên những điều này vẫn còn tương đối khó hiểu và đã không thuyết phục được người dân, và có đến phân nửa dân chúng tin rằng chính phủ cũng sẽ phải tăng thuế dưới một hình thức nào đó, hoặc là họ phải trả tiền bảo hiểm cao hơn nhiều. Vì thế nên cuối cùng đa số các gia đình đều tin rằng họ sẽ phải trả chi phí cao hơn trong tương lai cho một dự án cải tổ.

Cuộc thăm dò lần này của ông Greenberg cho thấy là những điều lo ngại đó vẫn không biến mất. Vẫn còn nhiều cử tri tỏ ra hoài nghi về những lời hứa hẹn rằng kế hoạch cải tổ sẽ giúp làm giảm chi phí và những lo lắng về sức khoẻ cá nhân. Những lời cổ võ về ích lợi của một hệ thống hành chánh và giấy tờ, sổ sách và hồ sơ bệnh lý được tối tân hoá với kỹ thuật điện toán để được đơn giản hơn, nhanh chóng và bớt tốn kém hơn dường như vẫn chưa đủ sức mạnh để thuyết phục người dân tin tưởng nhiều.

Niềm hy vọng lớn nhất của người dân về một chính sách cải tổ y tế là có thể giảm bớt được chi phí y tế cũng như bảo-hiểm-phí mà mỗi gia đình phải chi trả hàng năm. Hy vọng kế đến là làm sao có thể giúp bảo đảm cho mọi người không bị mất bảo hiểm y tế một khi họ dọn đi nơi khác, hoặc bị đau yếu hay bị mất việc. Tuy vậy khi trả lời xong hết mọi câu hỏi trong cuộc thăm dò ý kiến và sau khi nghe đủ ý kiến của hai phe bênh và chống, điều nhiều người còn nhớ đến nhất vẫn là chi tiết về việc kế hoạch cải tổ có thể giúp cho mọi người dân có được bảo hiểm y tế, hơn là những chi tiết về việc tiết giảm chi phí hoặc là gia tăng khả năng có thể mua được bảo hiểm y tế. Nếu như vào thời điểm của năm 1993 nhiều người không quan tâm lắm về vấn đề này vì mức độ thất nghiệp xuống thấp thì giờ đây điều ngược lại đang xảy ra. Gần như có đến 40% dân chúng hiện nay cho biết là chính họ hoặc thân nhân của họ đã bị mất công ăn việc làm trong năm ngoái, và chính thành phần này là giới cử tri ủng hộ mạnh mẽ nhất cho kế hoạch của ông Obama. Dĩ nhiên, người ta cũng cần phải thuyết phục cho cử tri biết về khả năng có thể giảm bớt chi phí của kế hoạch cải tổ nếu như những người chủ trương hy vọng có thêm đông người ủng hộ.

Một trong những lý do kế hoạch cải tổ y tế của TT Clinton gặp thất bại vào năm 1994 là sự chống đối mạnh mẽ của nhiều nhóm chính yếu. Khối những người cao niên đã không thấy có điều gì lợi cho họ trong việc này mặc dù ông Clinton đã bảo đảm rằng hệ thống Medicare sẽ được bảo vệ vững chắc, và còn được bổ sung thêm bằng một chương trình mới giúp đỡ về việc mua thuốc men. Những người cao niên đã tin rằng việc chính phủ cố dồn công sức vào việc tiết giảm chi phí y tế không nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng đến việc bảo vệ cho khối người già.

Lần này, mặc dù ông Obama đã vận động sự ủng hộ của hội AARP (Hiệp hội Những người Cao Niên) trong kế hoạch đi tìm sự yểm trợ (hoặc thoả thuận yểm trợ) của nhiều nhóm quyền lợi khác như Hiệp hội các bác sĩ (American Medical Association, AMA), Hiệp hội các Viện bào chế thuốc tây v.v. . . nhưng ông Greenberg cho biết là cuộc thăm dò mới nhất cho thấy là chỉ có 1/3 người cao niên ủng hộ kế hoạch cải tổ của ông Obama. Theo ông Greenberg thì điều này cũng không có gì lạ, vì trong kế hoạch cải tổ lần này đã không có nhiều điều có lợi thiết thực gì to lớn đối với giới cao niên.

Một thành phần cử tri trung thành khác mà nhiều người tin rằng sẽ dễ dàng ủng hộ các kế hoạch của phe Dân Chủ là các gia đình có thân nhân là hội viên các nghiệp đoàn. Tuy vậy, vào lúc trước giới này gần như vẫn đứng bên lề. Điều này có thể giải thích một phần bởi sự chống đối của họ đối với hiệp ước NAFTA về tự do mậu dịch giữa 3 nước tại Bắc Mỹ được chính quyền Clinton ủng hộ để thông qua lúc bấy giờ. Nhưng những dự luật cải tổ y tế chỉ hứa hẹn một số quyền lợi không rõ rệt cho các hội viên, trong khi đa số thành phần này đều đã có sẵn những quyền lợi hậu hĩ về bảo hiểm y tế tại sở làm do bởi được nghiệp đoàn tranh đấu và bảo vệ. Vì thế nên cuối cùng các nghiệp đoàn đã không huy động mạnh mẽ lực lượng của mình cũng như không tài trợ cho những chương trình quảng cáo để biện minh cho phe ủng hộ cải tổ.

Ngày nay, lực lượng của các nghiệp đoàn đã bị suy yếu nhiều so với lúc trước, chưa kể đến việc bị chia rẽ trong nội bộ, nhất là về những đổi thay trong các chính sách bảo hiểm y tế và tình trạng công ăn việc làm khó khăn đã góp phần lớn vào những tiếng nói đòi hỏi phải có cải tổ y tế. Đã hết còn tin tưởng vào những bảo đảm xưa cũ của một hệ thống bắt đầu hết còn hữu hiệu, đa số các thành viên của nghiệp đoàn đều là những người ủng hộ nhiệt thành cho kế hoạch cải tổ của ông Obama. Thế nhưng họ cũng còn ngồi chờ xem là gia đình của họ sẽ bị ảnh hưởng cụ thể ra sao trong những trường hợp cải tổ. Việc tranh luận gần đây để xem là có nên tính thuế lợi tức trên khoản tiền trả bảo-hiểm-phí do chủ nhân trợ cấp chắc chắn sẽ khiến nhiều người ngần ngại. (Phần lớn tiền bảo hiểm y tế của nhân viên là do hãng hay chủ nhân trợ cấp, trung bình mỗi năm lên đến 12,000 Mỹ-kim. Số tiền này không bị đóng thuế như là lợi tức so với các quyền lợi khác như tiền thưởng bonus. Trong việc đi tìm thêm nguồn lợi tức, chính quyền Obama nói có thể nghĩ đến việc tính thuế trên những món tiền trợ cấp bảo hiểm y tế rấtù cao khoảng trên 40,000 Mỹ-kim, của những người làm có lương cao như tổng giám đốc v.v., thường gọi là các “bảo hiểm y tế xa xỉ”, Cadillac plans).

Cho dù đa số cử tri vẫn tỏ lòng tin tưởng về cá nhân ông Obama cũng như chính phủ do ông lãnh đạo, nhưng một số lớn cũng bắt đầu lo ngại về mối nguy thâm thủng ngân sách gia tăng quá cao với nhiều chương trình chi tiêu quá tốn kém, trong đó có những chương trình cứu trợ cho nhiều thành phần vô trách nhiệm và bất tài (như trong các kỹ nghệ tài chánh ở Wall Street và sản xuất xe hơi ở Detroit.) Do đó, mặc dù người dân muốn thấy có một sự thay đổi trong chính quyền và xã hội để tránh đi vào vết xe tham lam và cẩu thả để hướng về một chính sách có kiểm soát hầu bảo vệ quyền lợi của đa số, vẫn còn nhiều người lo ngại rằng chính quyền Obama cũng có thể đi vào một chiều hướng sai lầm khác.

Trong số 3/4 dân chúng cho rằng mình “hài lòng” với chương trình bảo hiểm mà họ hiện có, thật ra thì họ cũng chưa hẳn hài lòng vì những chương trình trợ cấp bảo hiểm y tế mà họ có được hiện nay là do một tình trạng thoả thuận bắt buộc khi giới chủ nhân quyết định không thể tăng lương cao và bớt một số quyền lợi khác để thay vào đó là tiếp tục trợ cấp bảo hiểm y tế. Những sự thoả thuận này khiến đa số bằng lòng bởi vì họ nghĩ rằng họ có thể sống lâu hơn với tình trạng hiện hữu và mong muốn rằng những đề nghị đổi thay sắp tới có thể cải thiện tình hình trong tương lai.

Điều nguy hiểm hiện nay là chính quyền Obama và phe Dân Chủ, nhất là trên Thượng Viện, có thể hơi nhát hoặc e dè trước áp lực tẩy chay của một số các nhà dân cử phe Cộng Hoà liên minh với giới doanh gia, và do đó có thể đi đến những thoả thuận trong chính sách cải tổ, chẳng hạn như sẽ gia tăng những khoản tiền trợ cấp cho một số các doanh nghiệp để mua bảo hiểm y tế cho nhân viên, nhưng đồng thời cũng không dám giữ vững lập trường trước khối các hãng bảo hiểm.

Con đường trước mặt của ông Obama trong những tuần lễ sắp tới quả thật cũng chông gai, cho dù phe Dân Chủ vẫn còn nắm quyền đa số áp đảo tại hai viện ở Quốc Hội. Lần sau cùng Quốc Hội Hoa Kỳ thông qua, và được tổng thống phê chuẩn, một đạo luật có khả năng giới hạn rõ rệt quyền lực của khối các doanh nghiệp và các nhà băng tại Hoa Kỳ là lúc đã diễn ra trong nhiệm kỳ đầu của TT Nixon để từ đó thành lập ra một lô những uỷ ban của chính quyền có chức năng kiểm soát và điều hành việc làm ăn trên thị trường. Ông Nixon không phải là một lãnh tụ theo khuynh hướng cấp tiến để chủ trương cải cách. Nhưng vào thời ấy, Hoa Kỳ đang trải qua một thời kỳ sôi động gần như nổi loạn, và một liên minh của nhiều thành phần từ các nghiệp đoàn, các tổ chức người tiêu thụ cũng như phe khuynh tả đã vùng lên và đè bẹp được sự chống đối của giới doanh gia vốn luôn có nhiều uy quyền và ảnh hưởng. Nhưng rồi sau đó thì giới doanh gia đã bắt tay với phe Cộng Hoà để tạo nên một liên minh vững mạnh đủ để chống lại bất cứ nỗ lực nào muốn đưa ra những cải cách có thể gây bất lợi cho họ. Tình trạng này vẫn tiếp diễn trong vòng ba thập niên qua. Liệu ông Obama có thể lật ngược được thế cờ hay không, sau khi hai người tiền nhiệm phe Dân Chủ là Jimmy Carter và Bill Clinton đều đã phải chuốc lấy thất bại?

Ông Obama sẽ phải tiếp tục giảng giải để thuyết phục cho người dân được hiểu rõ hơn và từ đó mới có thể ủng hộ mạnh mẽ hơn cho một sự đổi mới rất cần thiết cho tương lai của Hoa Kỳ, trong đó chính sách cải tổ bảo hiểm y tế sẽ là một phần quan trọng trong tham vọng muốn cải thiện và thăng hoa đời sống theo chiều hướng nhân bản hơn. Và lần này, ông sẽ phải đánh ván bài ‘xả láng’ để chứng minh là câu nói “Yes, We Can” không phải chỉ là một lời hứa suông.

Mai Loan

Địa chỉ thư điện tử này đã được bảo vệ khỏi các chương trình thư rác, bạn cần bật JavaScript để xem nó

Houston, Texas 09-08-09

 

Viết lời bình luận


Mật mã
Cập nhật