Những cú bắt tay gây xốn mắt
Tuấn Minh
Trước ngày cuộc bầu cử tổng thống kết thúc, mọi người đều biết rõ là nếu ông Obama được đắc cử, chính sách điều hành của ông chắc chắn sẽ khác biệt với người tiền nhiệm là ông Bush. Lý do đơn giản đầu tiên là vì ông thuộc đại diện đảng Dân Chủ, coi như đối lập với những gì mà ông Bush và đảng Cộng Hoà chủ trương ở cả hai mặt đối nội và ngoại giao. Những lời hô hào của ông Obama đã chỉ trích nhiều lần về cuộc chiến Iraq, và hứa hẹn rằng nếu được đắc cử thì sẽ nhanh chóng ra lệnh rút quân Mỹ rời Iraq để về nước, đã bị nhiều người bên phe Cộng Hoà đem ra chỉ trích dữ dội nhưng cũng không có kết quả, phần lớn là vì đa số người dân tại Hoa Kỳ đều đã hết còn tin tưởng vào khả năng của chính quyền Bush, một trong số hiếm hoi những lãnh tụ đã làm cho uy tín của Hoa Kỳ bị tụt giảm nặng nề nhất trong lịch sử và bị nhiều người trên thế giới dè bĩu hay tránh xa.
Nhưng cung cách làm việc của ông Obama cũng khác hẳn, nếu không muốn nói là gần như hoàn toàn đối chọi với ông Bush. Những người còn cố vớt vát để ủng hộ ông Bush thì cho rằng còn quá sớm để định luận về thành quả của ông ta vì có thể trong vòng vài chục năm sắp tới, những biến chuyển trên trường quốc tế sẽ chứng minh là thái độ cứng rắn và mạnh tay không khoan nhượng mà chính quyền Bush luôn chủ trương chính là điều cần thiết giúp cho các nước khác trên thế giới, dù là bạn hay thù, cũng phải kiêng dè và nể sợ Hoa Kỳ cho dù có oán ghét. Trên lý thuyết, lối biện luận kiểu này cũng có cái lý của nó vì nhiều sự kiện phải cần thêm một khoảng thời gian hồi ức lại thì người ta mới có thể phán xét một cách khách quan hơn về thành quả hay thất bại của nó.
Tuy vậy, không phải vì vậy mà người ta không thể phán đoán về những điểm mà đa số đều coi như là thất bại, hay đúng hơn là bất tài, của nhiều nhân vật trong chính quyền Bush từ kẻ chóp bu trở xuống, nhưng lại luôn đi kèm với bản tính kiêu căng, ngạo mạn vô lối giống như tác phong của một anh cao-bồi hung hăng và tự biện minh là mình làm đúng với tấm lòng là không cần gì phải ngần ngại trước sự chống đối của mọi người khác. Thật ra thì từ giữa nhiệm kỳ hai chính quyền Bush đã gần như thay đổi hoàn toàn, đi ngược lại với những chủ trương cứng rắn của phe bảo thủ đưa ra lúc ban đầu theo giọng điệu của các ông Dick Cheney và Don Rumsfeld, nhưng vẫn không đạt được kết quả cụ thể nào do bởi bản tính cá nhân của ông Bush vẫn còn ngoan cố không muốn công khai nhìn nhận lỗi lầm của mình có thể do vì tự ái cá nhân.
Tại Bắc Hàn, chính quyền Bush đã phải xuống nước nhờ vả đến sự giúp đỡ của Trung Cộng để dụ cho quốc gia ngổ ngáo này chịu quay trở lại bàn hội nghị 6 bên, và để cho đặc sứ Christopher Hill mặc tình thương thuyết và điều đình để trở lại giống như tình trạng trước đó dưới thời TT Clinton (mặc dù gặp sự chống đối dữ dội của phe bảo thủ và ông Cheney) và cuối cùng cũng viện trợ trở lại cho chính quyền ở Bình Nhưỡng. Tại Iraq, mặc dù lúc nào cũng thích nói cứng và không chịu đưa ra lời kêu gọi rút quân Mỹ ra khỏi Iraq, nhưng chính quyền Bush cuối cùng cũng phải đồng ý với những đòi hỏi từ phía chính quyền Maliki về thoả thuận giữa hai bên ấn định lịch trình rút quân Mỹ (đầu tiên là rời khỏi thành phố và sau đó giới hạn hoạt động trong các căn cứ quân sự) để cho thấy là Hoa Kỳ không còn mong lèo lái chính trường tại Iraq theo như ý muốn của mình mặc dù đã tốn bao xương máu và tiền bạc đổ vào chiến trường khốc liệt này.
Sự bất tài hay thành quả thiếu hiệu năng của ông Bush càng được thể hiện rõ nét hơn cũng vì chỉ thích đưa ra những hình ảnh hay lời nói cứng rắn nhưng cuối cùng lại không đạt được những thành tích tương xứng. Nó tương tự như trường hợp những anh chàng trước khi dự thi thường hay thích vỗ ngực khoe khoang nhưng đến lúc kết cuộc chẳng đạt được gì, dễ khiến nhiều người chú ý đến những lời nói ba hoa hay đại ngôn của mình lúc trước. Giá như họ chịu khiêm cung hơn, làm việc lặng lẽ hay âm thầm kín đáo hơn thì cho dù có không đạt được thành quả khả quan cũng ít bị để ý và phê bình là thất bại.
Chi tiết này, thật ra bộ tham mưu của ông Bush biết rất rõ vì đó là trò chơi cổ điển trong chính trường, thường gọi là low expectation game. Mục đích của chiến thuật này là làm sao cho mọi người không chờ đợi hay tin tưởng quá nhiều vào thành quả của mình, và do đó nếu có thất bại thì cũng bị coi là chuyện bình thường, tự nhiên chứ không phải là chuyện thảm bại. Nhưng ngược lại, vì lý do nào đó mà mình đạt được một thành quả khả quan, dù rất tương đối, thì cũng có thể được coi như là một thắng lợi lớn đầy ngạc nhiên vì vượt ra khỏi sự tiên đoán của mọi người. Trong hai cuộc bầu cử vào các năm 2000 và 2004, bộ tham mưu của ông Bush đều biết rằng ông này không có sở trường, cũng như không được biết tiếng là một người có tài ăn nói hùng biện và lưu loát, nhanh trí. Họ tìm cách đề cao những đối thủ như Al Gore và John Kerry với tài ứng biến tranh luận đã có từ lâu và chỉ nhấn mạnh đến ưu điểm của ông Bush là một người chỉ luôn thích nói thật lòng mình. Tuy nhiên đến khi ông Gore ăn nói hớ hênh vì đề cao quá lố một vài sự kiện nào đó và bị báo giới phát giác ra được thì hào quang tranh luận sáng chói của ông Gore lại quay ngược lại để cho thấy hình ảnh một chính trị gia thiếu thành thật vì sẵn sàng thổi phòng nhiều sự kiện theo chiều hướng có lợi cho mình. Và trong trường hợp đó thì hình ảnh thật thà của ông Bush lại có phần được nhiều người ưa thích hơn.
Tiếc thay ông Bush và bộ tham mưu lại chỉ biết giới hạn chiến thuật này trong những màn vận động tranh cử để mong lấy phiếu của cử tri tại Hoa Kỳ, mà lại không đem ra áp dụng trên trường quốc tế để mong nhận lấy sự ủng hộ của công luận và chính phủ tại nhiều nước khác trên thế giới. Vì thế nên đã để lộ ra bản chất hết uy lực để có thể khống chế các nước như Bắc Hàn hay Ba Tư (Iran) hoặc Iraq theo như ý của mình. Tương tự như trong vụ ứng xử với Nga trong hồ sơ chiến tranh với Georgia, nếu biết rằng Hoa Kỳ (và Âu châu) cũng bất lực trước việc Nga dùng sức mạnh quân đội của mình để tấn công một nước nhỏ bé như Georgia, việc chính quyền Bush đừng đưa ra những lời lẽ mạnh bạo như cố ý là sẽ hỗ trợ cho Georgia để rồi cuối cùng chẳng làm được việc gì, có lẽ sẽ dễ cho nhiều người ít thấy hơn khả năng giới hạn của Hoa Kỳ trong vụ này.
Cũng còn quá sớm để đánh giá về những thành quả của chính quyền Obama qua những chuyến công du mới đây trong thời gian chưa đầy 100 ngày sau khi ông lên cầm quyền. Những người không ủng hộ thì cho rằng ông chưa có bằng chứng gì để chứng minh là những thái độ hoà nhã hay dịu giọng (mà nhiều người còn khó chịu cho là xuống nước quá đáng làm mất mặt của đệ nhất siêu cường) sẽ đem lại những thành quả tốt đẹp hơn cho quyền lợi của Hoa Kỳ trong tương lai gần. Họ nhấn mạnh đến việc ông đã nhiều lần lên tiếng xin lỗi về thái độ của Hoa Kỳ trong quá khứ (trong đó có ý ám chỉ nhiều nhất chính quyền Bush) cũng chẳng thay đổi được thái độ và quyết định của đa số các quốc gia tại Âu châu hay trong Liên minh NATO chịu bỏ thêm quân để giúp đỡ cho Hoa Kỳ tại chiến trường A Phú Hãn. Tuy vậy, đa số cũng không lên tiếng chỉ trích về việc làm và cung cách ứng xử của ông Obama trong chuyến công du xuyên qua 6 nước với nhiều cuộc họp thượng đỉnh cho nhiều đề tài khác nhau. Bởi người ta không thể phủ nhận là thái độ khiêm cung và mềm dẻo của ông Obama, chưa kể đến việc bình tĩnh và chững chạc trong việc hội họp với các vị lãnh tụ khác, đã khiến cho mọi giới truyền thông cũng như các chuyên gia am tường thời sự đều đánh giá rất tốt đẹp về thành quả của chuyến đi cũng như về uy tín của vị tân tổng thống Mỹ.
Ngay cả những người bên đảng Cộng Hoà cũng phải công nhận rằng việc Hoa Kỳ không còn là mục tiêu để mọi người trên thế giới chĩa mũi dùi vào để tấn công (nhờ vào hình ảnh và cố gắng cá nhân của ông Obama) cũng được coi như là một điểm tích cực vì chẳng ai thực sự muốn hãnh diện mình là nước được mọi người trên thế giới thù ghét hay chỉ trích. Có thể chỉ có một ít thiểu số vẫn còn cố chấp và không thể chấp nhận hình ảnh của một lãnh tụ mới nên đã tìm cách moi móc những sự việc lặt vặt như đưa ra hình ảnh ông Obama có vẻ như cúi rạp mình xuống khi bắt tay với Quốc vương Abdullah của Saudi Arabia để chỉ trích. Họ cho rằng ông Obama có lẽ đã làm nhục quốc thể của Hoa Kỳ.
Nhưng lần này thì sự chịu đựng của những người không ưa hay chống đối ông Obama có lẽ đã không thể tiếp tục, sau chuyến công du ngắn 3 ngày đến lân bang Mễ Tây Cơ và dự hội nghị thượng đỉnh của các quốc gia Nam Mỹ tại đảo quốc Trinidad & Tobago. Những tiếng nói chỉ trích của phe Cộng Hoà đã đồng loạt cất lên để chỉ trích về những lời tuyên bố hay việc làm của ông Obama trong chuyến công du này. Thật ra thì ông Obama cũng chẳng có những lời nói hớ hênh hay lộng ngôn nào, cũng như ông đã gặp những vị nguyên thủ của nhiều quốc gia, thù cũng như bạn, theo đúng với nghi thức ngoại giao đòi hỏi như trong các cuộc họp thượng đỉnh với khoảng 20 vị nguyên thủ khác trong chuyến công du sang Âu châu trước đó.
Tại Mễ Tây Cơ, ông Obama muốn chứng tỏ một tinh thần hợp tác mới theo chiều hướng thân thiện và kính trọng hỗ tương hơn là trong tương quan của người mạnh và kẻ yếu dù cùng đứng chung trong một liên minh. Ông nói đến việc từ nay sẽ không còn cảnh đàn anh hay đàn em trong tương quan giữa hai nước hay với các nước khác. Tại hội nghị thượng đỉnh của hơn 50 quốc gia Nam Mỹ, ông đã ngồi yên để lắng nghe các lãnh tụ khác (như Daniel Ortega của Nicaragua) đọc những bài diễn văn dài để chỉ trích về chủ nghĩa tư bản và chính sách của “đế quốc Mỹ” là nguyên nhân gây ra bao thảm cảnh tại vùng này, cũng nhắc lại sự kiện Hoa Kỳ can thiệp vào nội tình của Cuba qua việc đổ bộ thất bại tại Vịnh Con Heo vào năm 1961. Ông Obama đã nhanh trí nắm lấy cơ hội để hoá giải bầu không khí căng thẳng bằng câu nói đùa rằng ông cám ơn TT Ortega đã không đổ lỗi cho ông ta vì vào thời đó ông chưa sinh ra đời.
Ông đã nhiều lần bắt tay với TT Hugo Chavez của Venezuela và trao đổi vài câu chào hỏi bằng tiếng Tây Ban Nha và hai người trông có vẻ tươi cười và tâm đắc, một hình ảnh khó tưởng tượng được chỉ mới cách nay vài tháng vì ông Chavez được coi như là một lãnh tụ tại Nam Mỹ cực lực chống đối Hoa Kỳ và chính quyền Bush mạnh mẽ nhất không thua gì lãnh tụ Fidel Castro. Kể ra thì thái độ của ông Chavez tuy có làm cho nhiều người Mỹ bực mình nhưng cũng có lý nếu như ta hiểu rằng chính quyền Bush coi như đã gián tiếp ủng hộ cho phe chống đối tại Venezuela lật đổ ông ta, để rồi sau đó bị thất bại và ông đã trở về nắm quyền lại và từ đó đâm ra oán giận Hoa Kỳ. Câu nói của ông Chavez chắc chắn sẽ làm phiền lòng rất nhiều người bảo thủ bên phe Cộng Hoà khi nhận xét về cuộc gặp gỡ lần này với vị nguyên thủ quốc gia của Hoa Kỳ: “Tôi nghĩ đây là một dịp tốt. Tôi nghĩ Tổng thống Obama là một người thông minh, nếu so sánh với vị tổng thống Mỹ trước đó.”
Những tiếng nói chống đối đã bắt đầu nổi lên liền sau đó tại Hoa Kỳ, đầu tiên là lời phê bình gắt gao của nghị sĩ John Ensign đại diện tại tiểu bang Nevada khi nói rằng TT Obama đã thiếu tinh thần trách nhiệm khi đứng trò chuyện cười đùa và bỡn cợt với ông Chavez vì ông này là một trong những lãnh tụ chống Mỹ cực đoan nhất trên thế giới. Ông phê bình như sau trong cuộc hội luận trên chương trình truyền hình CNN của nhà báo John King: “Ông ta là một kẻ độc tài và những vụ vi phạm về nhân quyền có đầy rẫy tại Venezuela. Vì thế nên mình (ý nói Obama) cần phải nên cẩn thận. Khi chúng ta nói đến uy tín của Hoa Kỳ và của chức vụ tổng thống Mỹ, chúng ta phải cẩn thận để xem là mình đang đùa cợt với những nhân vật nào.” Nhưng nữ nghị sĩ Amy Klobuchar, đại diện cho tiểu bang Minnesota, cũng xuất hiện trong cùng chương trình này thì nói rằng việc ông Obama bắt tay với ông Chavez thì cũng chẳng khác gì trước đây ông Bush cũng đã bắt tay vậy. Việc ông Obama làm thì cũng giống như ông đã làm trong cuộc họp thượng đỉnh G-20 cách nay 2 tuần, đó là việc giơ tay ra để bắt tay với mọi quốc gia khác, và điều này rất hữu hiệu.
Sau đó là đến phiên những khuôn mặt bảo thủ cực hữu khác như Newt Gingrich và Dick Cheney cũng cho là việc ông Obama khi bắt tay và tỏ ra vồn vã với ông Obama sẽ tạo nên một hình ảnh bất lợi khi các lãnh tụ trên thế giới, nhất là các quốc gia thù nghịch, sẽ nghĩ rằng mình đang đối phó với một vị tổng thống Mỹ có vẻ như hèn yếu. Nhưng ông Obama đã gác bỏ sang bên những lời chỉ trích kiểu này và cho rằng hành động của ông sẽ củng cố thêm vị thế của Hoa Kỳ khi giang tay đến những kẻ thù cũ. Và ông cũng muốn là quốc gia này (Hoa Kỳ) trở thành một nước lãnh đạo (leader), chứ không phải là một nước giảng đạo (lecturer) về tinh thần dân chủ. Ông nhắc lại sự kiện nhiều người đã từng chỉ trích tương tự trong thời gian ông vận động tranh cử: “Nhiều người có khái niệm rằng khi mình tỏ ra lịch sự hay tìm cách đối thoại với những chính quyền trước đây tỏ ra thù nghịch với chúng ta thì điều đó có nghĩa là mình đã chứng tỏ sự yếu kém. Người dân Hoa Kỳ đã không bị mê hoặc bởi cái lý luận kiểu đó. Và cũng có lý khi người dân Mỹ không tin như vậy, bởi vì điều đó chẳng có nghĩa lý gì cả để tin cậy.”
Và ông cũng gạt luôn tất cả những người muốn chỉ trích khi tìm cách khai thác về ý nghĩa của những cú bắt tay khi phê bình: “Tôi không tin rằng do hậu quả của việc tôi bắt tay hay nói chuyện một cách lịch sự với ông Chavez là sẽ khiến cho quyền lợi chiến lược của Hoa Kỳ sẽ bị nguy hiểm. Ngay cả với những người có đầu óc tưởng tượng phong phú, thì cũng khó để nghĩ ra ra một tình cảnh mà quyền lợi của Hoa Kỳ sẽ bị thiệt hại do hậu quả của việc chúng ta (Hoa Kỳ) có một mối tương quan có tính cách xây dựng với nước Venezuela.”
Có lẽ ông Obama đã nói lên sự thật mà nhiều người đều nhìn thấy, tuy rằng có nhiều người khác vẫn còn cảm thấy khó chịu, hay không muốn nhìn thấy, vì lúc nào cũng còn muốn mang cái cảm giác của một kẻ đàn anh, một quốc gia hùng mạnh lúc nào cũng muốn áp đặt ý muốn của mình lên kẻ khác, và giờ đây rất khó chịu và bực tức khi thấy vị thế của mình đã không còn hùng mạnh như xưa. Và đó là những thành phần mà phe bảo thủ cực hữu đang tìm cách khai thác, như đã cố công khai thác trong thời gian vận động tranh cử kéo dài gần cả hai năm vừa qua, mặc dù kết quả đã ngã ngũ rõ ràng với sự chọn lựa của đa số quần chúng tại Hoa Kỳ.
Tuấn Minh
Địa chỉ thư điện tử này đã được bảo vệ khỏi các chương trình thư rác, bạn cần bật JavaScript để xem nó
| < Trước | Tiếp > |
|---|


