Những người không bị ảnh hưởng bởi cuộc suy thoái kinh tế
Mai Loan
Trong bài diễn văn đọc trước lưỡng viện quốc hội vào cuối tháng Hai khi nói về tác hại ghê gớm của cuộc suy thoái kinh tế nổ ra tại Hoa Kỳ và sau đó lan rộng khắp toàn cầu, Tổng thống Obama đã phát biểu: “Tất cả mọi người đều bị khốn đốn vì nó.” Ý ông muốn nói đến những hậu quả về thất nghiệp và phá sản đã tiếp tục gia tăng vì cuộc khủng hoảng tài chánh và kinh tế đã tác động lên mọi tầng lớp quần chúng và tại khắp các tiểu bang tại Hoa Kỳ cũng như trên hầu hết các nước khác trên toàn cầu. Và đó cũng là câu nói thường nhật của nhiều chính trị gia hoặc các bình luận gia, thuộc phe tả cũng như hữu, luôn thốt lên mỗi khi bình luận về tình hình thời sự kinh tế hiện nay. Và có lẽ đa số người dân cũng coi đó như là chuyện xác đáng vì cứ nghe đi nghe lại mãi câu nói đến gần như thuộc lòng.
Tuy vậy, nhận xét đó cũng không hoàn toàn chính xác, bởi vì cũng có nhiều người làm ăn trong những ngành, nghề đặc biệt dường như lại khấm khá hơn vì tình hình kinh tế khó khăn này, cho dù đó chỉ là một thiểu số. Chẳng hạn như những người làm ăn trong các tiệm tạp hoá rẻ tiền chuyên bán hàng hoá với giá 99 xu (vì tình kinh tế khó khăn nên nhiều người không có nhiều tiền để đi mua hàng ở những chợ bình thường). Hoặc như những ông bà luật sư chuyên lo khai hồ sơ phá sản làm ăn không ngừng nghỉ vì số đơn phá sản tiếp tục dâng cao (trong khi nhiều luật sư các ngành khác cũng bị thất nghiệp như mọi người). Hoặc những chuyên gia địa ốc (nhưng đặc trách về các dịch vụ mua bán những căn nhà bị ngân hàng tịch biên) hoặc trong ngành vay nợ và tái tài trợ (chuyên lo các vụ nộp đơn xin thay đổi điều kiện trả nợ gọi là ‘loan modification’), tuy rằng đa số những cơ sở dịch vụ về địa ốc và nợ mua nhà mortgage đều phải đóng cửa dẹp tiệm.
Hoặc là những ai làm trong những ngành, nghề liên quan đến súng ống, vì cái hậu quả giây chuyền kỳ lạ và quái gỡ của xã hội Hoa Kỳ. Khi người dân thất nghiệp hoặc gặp khó khăn tăng cao thì tỉ lệ tội phạm cũng từ đó tăng theo. Chuyện mua bán súng ống để đi trộm cướp cũng gia tăng theo, dẫn đến hậu quả là tư nhân cũng như chủ nhân các cơ sở thương mại cũng thi nhau sắm sửa súng ống để tự vệ. Rồi lại có những tin đồn đoán từ nhiều người bảo thủ cực hữu cho rằng chính quyền Obama sẽ tìm cách ra đạo luật để giới hạn việc mua bán súng ống nên nhiều người đổ xô đi tìm mua để dành sẵn. Không ai rõ là tình hình kinh tế khó khăn và chuyện bạo động vì những vụ nổ súng chết người hàng loạt gia tăng gần đây có dính líu gì với nhau hay không theo kiểu nguyên nhân và hậu quả, nhưng rõ ràng là một loạt gần 10 vụ nổ súng đùng đùng khiến hàng chục người bỏ mạng trong vài tuần qua chắc hẳn cũng khiến nhiều người giật mình không hiểu tại sao ở đất nước thanh bình và tự do này lại có nhiều người có thể thiệt mạng vì những lý do kỳ quái và lãng xẹt như vậy.
Nói tóm lại, ở đời này có những sự việc không phải lúc nào cũng dẫn đến những hậu quả tương tự cho mọi người. Chuyện đau buồn hay mất mát của người này có thể lại là điều may mắn hay tốt số cho người khác, chẳng hạn như một người thiệt mạng thì khiến cho nhiều thân nhân và bạn bè đau buồn nhưng lại là điều tốt hay ‘vui mừng’ cho những ai làm trong các nhà đòn chuyên lo các dịch vụ tống táng. Trong địa hạt kinh tế cũng có những trường hợp tương tự như liệt kê ở trên. Có nhiều người đã không bị ảnh hưởng gì thì chớ mà dường như còn ‘làm ăn’ khấm khá hơn nữa trong thời gian khó khăn kinh tế vừa qua. Nhà báo Nick Bauman, trong một bài viết đăng trên tạp chí Mother Jones đề ngày 13-3 vừa qua đã liệt kê ra 10 nhân vật được coi như là “chiến thắng” vẻ vang trong cuộc khủng hoảng tài chánh hiện nay. Đó là những nhân vật như:
John Paulson. Ông này là giám đốc điều hành một hedge fund, tức là tổ hợp đầu tư theo kiểu táo bạo giống như đầu cơ. Cũng khó để dịch cho đầy đủ từ ngữ này. Gọi là ‘quỹ đầu tư đối trọng’ nghe chỉ có vẻ nặng nề theo kiểu quá lệ thuộc vào chữ Hán Việt nhưng cũng chẳng giải thích được ý nghĩa của nó. Hedge có nghĩa là hàng rào, những người điều hành các quỹ hedge funds thường được hiểu là những người đứng chân trong chân ngoài (vì ở sát ngay hàng rào), sẵn sàng bỏ thứ này, bắt thứ khác để đầu tư kịp thời tuỳ theo tình hình thay đổi bất ngờ, khác với tinh thần đầu tư cổ điển từ xưa thường được hiểu là để dành tiền bằng cách mua các cổ phiếu và để nằm im đó trong một thời gian dài và sẽ thấy lợi lộc đến sau đó. Trong chính trường, người Việt thường dùng từ ngữ ‘đón gió trở cờ’ để chỉ những kẻ đánh hơi rất nhạy bén này để thay đổi lập trường miễn sao có lợi là được.
Trong khoảng hai thập niên vừa qua, những người điều hành hay làm việc trong các quỹ đầu cơ này đã làm giàu khá nhiều vì họ thường đi trước nhiều người khác và do đó mỗi khi cổ phiếu tăng giá thì họ là những người hưởng được lợi cao nhất (vì đã mua với giá rất rẻ lúc ban đầu). Tuy vậy, trong cơn khủng hoảng tài chánh vừa qua, những quỹ đầu cơ hedge funds cũng bị lỗ lã đến ‘chỏng gọng’ vì đa số các tài sản đầu tư cũng đều dính líu đến những giấy nợ subprime thuộc loại dưới tiêu chuẩn nên bị mất giá kinh khủng. Nhưng quỹ đầu cơ của ông John Paulson thì trái lại đã thành công lớn vì ông đã đánh cá ngược lại với hầu hết các nhà băng và các quỹ đầu cơ khác đã say mê lao đầu vào cơn sốt địa ốc với những món nợ subprime. Trong một bài báo đăng trên tạp chí đầu tư Portfolio trong tháng Hai vừa qua với tựa đề là “John Paulson Profits in Downturn”, tạm dịch là John Paulson có lời trong cơn suy thoái, người đọc mới thấy là trong năm 2007 quỹ đầu cơ của ông tăng lên đến 15 tỷ Mỹ-kim với tiền lời khoảng 3 tỷ 700 triệu Mỹ-kim trong khi đa số các cơ sở tài chính khác đều thi nhau lỗ lã. Trong năm 2008 thì quỹ đầu tư của ông không làm giàu mạnh bằng năm trước, nhưng cũng gia tăng 38% trong khi chỉ số S&P 500 của hầu hết các cơ sở khác đều bị lỗ khoảng 40%.
Tạp chí Forbes chuyên liệt kê các nhà tỷ phú giàu nhất trên thế giới cho biết là trong năm 2008 đã có 656 tỷ phú bị thua lỗ trong khi ông Paulson lại là một trong số 44 người đã làm giàu nhiều hơn trước. Tài sản của ông tăng vọt gần như gấp đôi so với năm 2007, giúp đưa ông lên vị thế số 76 trong danh sách của Forbes về những nhà tỉ phú hàng đầu. Theo tạp chí Portfolio thì số tiền 100 Mỹ-kim đầu tư trong quỹ Credit Fund 1 của ông Paulson vào năm 2007 có trị giá bằng 700 Mỹ-kim vào lúc này. Một bản tin của Bloomberg News cũng cho biết là sau tháng 9-2008, quỹ của ông Paulson lại kiếm lời được thêm 428 triệu Mỹ-kim vì đã bán non trên hai cơ quan tài chính của Anh là Lloyds Banking Group và HBOS Plc.
Andrew Lahde. Ông này là chủ nhân của quỹ đầu tư Lahde Capital đặt trụ sở tại Santa Monica ở California cũng đánh cá giống như ông Paulson. Ông cho rằng đa số các quỹ đầu cơ và các tổ chức tài chính khác đã xào nấu các loại cổ phiếu được bảo đảm bằng giấy nợ subprime và được đánh giá cao bằng những tổ chức thẩm định giá trị để được coi là những món hàng đầu tư béo bở và chuyền tay khắp nơi trên thế giới, thật ra cũng chỉ là những thứ giấy nợ ‘dổm’. Vào cuối năm 2007, tờ báo Financial Times đã tường thuật sự kiện quỹ Lahde Capital đã có thành tích thu lợi được với tỉ lệ cao đến 1,000%, và được tờ báo này đánh giá là một trong những hành động làm ăn có lời nhất từ trước tới nay. Khác với ông Paulson, ông Lahde này không còn làm ăn trong ngành tài chánh nữa. Ông đã dẹp tiệm để đi chơi đây đó sau khi đã viết một bài lên án kỹ nghệ đầu cơ và hệ thống chính quyền tại Mỹ cũng như tất cả những ai đã góp phần vào vụ khủng hoảng tài chánh này.
Sir Fred Goodwin. Ông này là tổng giám đốc của nhà băng Royal Bank Scotland (RBS) cho đến khi chính phủ Anh bỏ tiền ra để cứu trợ vào cuối năm ngoái cho nó khỏi bị suy sụp vì có thể dẫn đến nhiều sự đổ vỡ giây chuyền khác. Tuần báo The Economist gọi ông ta là một loại “triệu phú bất đắc dĩ” vì nếu như không có sự cứu trợ này, tiền về hưu hàng năm của ông khi đến tuổi 65 là khoảng 39,000 Mỹ-kim. Nhưng nhờ có số tiền cứu trợ này mà RBS sống sót và khá hơn nên tiền pension của ông đã tăng lên thành 1 triệu Mỹ-kim cho mỗi năm.
James Chanos. Ông này nổi tiếng vào đầu năm 2000 vì đã từng đánh cá rằng công ty Enron có giá cổ phiếu thổi phồng quá lố (vào lúc nhiều người vẫn còn coi trọng công ty này ở vị thế hàng đầu của nước Mỹ trước khi sụp đổ sau này). Trong cuộc điều trần tại Quốc hội, ông đưa ra nhiều bản phân tích do công ty của ông là Kynikos Associates thực hiện để xác định rằng Enron thật ra không giầu mạnh như nhiều người lầm tưởng. Sở trường của ông là chuyên đánh cá rằng cổ phiếu của nhiều công ty sẽ tụt giá, và do đó năm 2008 coi như là một năm khá thành công của ông vì đa số cổ phiếu của các công ty không những tụt giá, mà còn tụt dốc thảm hại. Mặc dù quỹ đầu tư của ông có lời nhiều so với nhiều quỹ khác, nhưng nhiều người đầu tư vì lo ngại nên cũng đã rút bớt tiền ra khoảng 20% vốn của họ trong quỹ của ông.
Prem Watsa: Ông này được so sánh như là một thứ Warren Buffett của Gia Nã Đại, một loại ‘tiên chỉ’ trong làng đầu tư tại Toronto. Ông cho rằng thế giới ngày nay đang trải qua một cơn chấn động tan tác về kinh tế cỡ như trận Trân Châu Cảng. Tuy vậy, ông lại làm giầu vì đã đoán đúng và do đó đã đầu tư tài sản theo chiều hướng thuận lợi nên không bị thua lỗ. Năm 2008 được coi là năm làm ăn tốt đẹp nhất cho công ty của ông là Fairfax Financial Holdings kể từ ngày thành lập đến nay đã hơn 23 năm. Với số tiền lời thu được trong năm trên 1 tỷ Mỹ-kim, công ty Fairfax được coi là tổ hợp làm ăn có lời nhiều nhất tại Gia Nã Đại trong năm qua.
Shawn Kolahi. Ông này xuất thân là dân môi giới các món nợ địa ốc và chuyên về lãnh vực tái tài trợ vì khuyến khích khách hàng hãy nên nộp đơn vay nợ mới vì giá trị căn nhà của họ đã gia tăng. Tuy nhiên ông cũng đã nhanh chóng đón gió trở cờ để tiếp tục làm ăn trong ngành địa ốc, nhưng lần này trong lãnh vực chuyên môn là ‘loan modification’. Bởi vì trong tình cảnh khó khăn hiện nay với tình trạng khủng hoảng về địa ốc lẫn tài chánh, cả con nợ (là chủ nhà) lẫn chủ nợ (là nhà băng) đều sẵn sàng, nếu có thể được, nghĩ đến chuyện sửa đổi lại những điều khoản mới về món nợ cũ miễn sao là con nợ vẫn còn có khả năng cầm cự để trả nợ hàng tháng thay vì bỏ cuộc để cho nhà bị tịch biên, cũng chẳng giúp ích cho nhà băng trong tình cảnh ứ đọng nhà cửa hiện nay. Không riêng gì ông Kolahi mà cũng có nhiều người khác trong ngành này, như các viên chức của công ty cho vay nợ địa ốc hàng đầu về subprime là Countrywide Financial cũng xoay sang làm ăn kiểu này sau khi Countrywide bị lỗ lã và được Bank of America mua lại.
Jerry Haworth. Ông này chỉ điều hành một quỹ đầu cơ thuộc loại nhỏ là Black Swan Fund với số tiền đầu tư khoảng 40 triệu Mỹ-kim. Trong năm 2008 trong khi đa số các quỹ hedge funds khác đều lỗ nặng thì quỹ này của ông đã lời đến 236%. Quỹ này được đầu tư theo kiểu đánh cá trong trường hợp xảy ra những tai hoạ, và khi năm 2008 chỉ toàn là những tai hoạ liên miên đổ xuống thì coi như đã thành công. Nhưng giờ đây ông Haworth lại nói rằng sẽ sớm dẹp quỹ đầu cơ này để quay sang đầu tư vào một hướng đi khác: ông sẽ đánh cá rằng nền kinh tế toàn cầu rồi sẽ đi về chiều hướng lạm phát tăng cao trong thời gian tới.
Meredith Whitney. Bà này là một trong số ít những chuyên gia được nổi tiếng khi tình hình kinh tế tụt dốc. Vào tháng 10 năm 2007, bà đã viết một bài phân tích trong nội bộ chỉ trích mạnh mẽ tình trạng tài chánh không được vững vàng của tổ hợp ngân hàng Citigroup. Chỉ 3 ngày sau đó, tổng giám đốc Citigroup là ông Chuck Prince đã từ chức và kể từ đó đến nay Citigroup đã phải được chính phủ Mỹ liên tiếp bơm tiền cứu trợ vào vì chỉ sợ nó sụp đổ. Vào tháng 8 năm ngoái, ông Gus Scacco là người điều hành quỹ đầu tư AG Asset Management đã nói với tạp chí Fortune rằng giờ đây mỗi khi bà Whitney này phát biểu hay phê bình điều gì thì thế nào trị giá của cổ phiếu của nhiều công ty sẽ lên hay xuống liền sau đó.
Jamie Dixon. Ông này là tổng giám đốc của nhà băng JP Morgan. Thật ra, đại ngân hàng này cũng giống như tất cả các ngân hàng khác cũng đều bị lỗ lã nặng trong cơn khủng hoảng hiện nay. Tuy nhiên, nếu trong một tập thể mà đa số đều bị thảm bại tanh bành trong khi mình chỉ bị trầy trụa sơ sài thì cũng có thể tạm an ủi là kẻ chiến thắng, theo kiểu “một anh chột làm vua trong thế giới những người mù”. Kể từ khi cuộc khủng hoảng tín dụng nổ ra, JP Morgan cũng bị lỗ khoảng 33 tỷ Mỹ-kim, nhưng so ra cũng còn nhỏ hơn là Citigroup bị lỗ đến hơn 88 tỷ và Merrill Lynch bị lỗ đến gần 56 tỷ và bị Bank of America mua lại. Sở dĩ JP Morgan không bị thua nặng là vì ông Dixon đã biết rút ra khỏi dịch vụ mua bán các cổ phiếu dựa trên giấy nợ địa ốc subprime sớm hơn các ngân hàng khác.
Và sau cùng là John Maynard Keynes. Ông kinh tế gia này thật ra đã quy tiên từ lâu rồi để không được dịp chứng kiến mọi người thi nhau hô hào những chính sách theo chủ thuyết của ông. Được coi như là kinh tế gia hàng đầu, cha đẻ của lý thuyết kinh tế vĩ mô làm nền tảng cho chính sách New Deal dưới thời TT Roosevelt, những lý thuyết và mô hình của ông được hầu hết các chính phủ trên thế giới áp dụng khi cho rằng vai trò của chính phủ là phải đề ra các chương trình chi tiêu công cộng để phát triển hạ tầng cơ sở nhưng đồng thời cũng tạo công ăn việc làm cho quần chúng, và nhờ đó vừa tạo được một sự thăng bằng trên thị trường kinh tế và đồng thời tạo được một sự quân bình tương đối trong xã hội. Những lý thuyết của ông cũng đóng góp tích cực trong việc dùng chính phủ như là một cơ quan để tái phân phối lợi tức dưới nhiều hình thức khác nhau và góp phần tích cực hơn trong thị trường, chứ không hẳn để cho thị trường hoạt động tự do theo kiểu laissez faire. Nhưng đến đầu thập niên 70 thì những lý thuyết mới về kinh tế theo khuynh hướng tiền tệ của kinh tế gia Milton Friedman bắt đầu được ăn khách hơn và được nhiều lãnh tụ phe Cộng Hoà theo đuổi. Và từ đó thì nhiều chính phủ theo khuynh hướng bảo thủ bắt đầu ‘chê’ chủ thuyết của Keynes vì cho rằng chính sách chi tiêu công cộng quá nhiều dễ dẫn đến tình trạng lạm phát.
Nhưng trong bối cảnh kinh tế suy trầm như hiện nay, hầu như mọi chính phủ và mọi kinh tế gia, theo tả cũng như hữu, đều công nhận tầm mức quan trọng của các chương trình kích cầu nhằm tung tiền ra thị trường qua các chương trình chi tiêu công cộng để mong vực dậy nền kinh tế trước khi có thể nói đến những giải pháp khác. Paul Krugman, nhà báo bình luận theo hướng cấp tiến của tờ New York Times và cũng mới đoạt giải Nobel về kinh tế vào năm ngoái cho rằng giai đoạn hiện nay là “một thời điểm của Keynes”. Còn ông Gregory Mankiw theo hướng bảo thủ và từng là chủ tịch hội đồng cố vấn kinh tế dưới thời TT Bush Con thì cho rằng “nếu như cần đi tìm chỉ một kinh tế gia thôi để hiểu rõ về những khó khăn của nền kinh tế hiện nay thì không có ai hay hơn bằng ông Keynes.” Theo nhà báo Baumann thì một khi mà cả hai kinh tế gia theo tả khuynh như ông Krugman và hữu khuynh như Mankiw đều đồng ý về những nhận định của ông Keynes thì chắc hẳn là chủ thuyết này phải có cái lý của nó. Cái định nghĩa làm nền của Keynes cho rằng những cơn suy thoái xảy ra khi mà nhu cầu tiêu thụ trong nước không tăng, và do đó chính phủ không nên hà tiện mà không mở công quỹ ra để chi tiêu trong lúc trải qua những cơn khó khăn kinh tế, giờ đây coi như đều được mọi người công nhận.
Ông Keynes có một câu nói bất hủ là trong vòng 100 năm tới thì mọi người chúng ta ai cũng chết cả, ý nói rằng không có ai còn sống để mà tranh luận xem ai đúng ai sai trong những phương thức để giải quyết khó khăn kinh tế. Tuy nhiên, nói theo lời của nhà báo và kinh tế gia Krugman thì “trong đường dài, rõ ràng là Keynes chưa bao giờ chết cả.”
Mai Loan
Houston, Texas 10-04-2009
| < Trước | Tiếp > |
|---|


