CON ĐƯỜNG VỀ VỚI DÂN TỘC
(Phần Ba, Tiết Ba, Mục Một)
Lê Việt Thường
(tiếp theo kỳ trước)
D) NGUYỄN DU VÀ “CHÂN TRỜI NGÔN NGỮ”
Trước khi bắt đầu việc làm trên, có lẽ chúng ta nên có trước mắt một vài Nguyên Tắc nhằm hướng dẫn công việc . Khi tìm hiểu một Tác Phẩm như “Truyện KIỀU “ của Thi Hào NGUYỄN DU, thông thường có hai loại ĐƯỜNG LỐI Tiếp Cận chính yếu tạm gọi là PHÂN TÍCH và TOÀN THỂ.
1) CÁI NHÌN PHÂN TÍCH
Đường Lối PHÂN TÍCH là Cách Thức mà tác giả đã áp dụng bằng việc kê khai từ đầu một “lô” Kiến Thức như “thiên mệnh” (hard determinism hay absolutism), “nhân mệnh” (soft determinism), Duy Nhân (anthropocentrism), Duy Cá Nhân (Individualism), “Hợp Nhất các Chân Trời” (The Fusion of Horizons), và tuy không nói rõ nhưng phải ngầm hiểu Biện Chứng Pháp (Dialectique) kiểu Hegel hay Marx, và lẽ dĩ nhiên thuyết “Tam Tài” theo lối tác giả “gán” cho người Việt và người Tàu…..vvv…..
Các Kiến Thức nêu trên “tự thân” không có gì “xấu-tốt” ,”hay- dỡ” cả! Vấn đề nếu có, liên quan đến Phương Pháp PHÂN TÍCH mà tác giả đã áp dụng nhằm đem từng yếu tố nêu trên ra xem xét và so sánh với những gì tác giả tìm thấy trong Tác Phẩm (Truyện KIỀU). Hoặc nhằm kết hợp một số Ý NIỆM thành một loại Ý THỨC HỆ là một lối nhìn Tiên Thiên (a priori) được sử dụng trong mục tiêu thẩm dịnh Giá Trị của Tác Phẩm, Tác Giả và các Nhân Vật.
Hệ quả là công việc nêu trên có nhiều cơ may đưa tới việc tác giả đặt ra những Vấn Đề có tính chất GIẢ TẠO, cùng với hiện tượng đã xảy đến là các nhân vật trong tác phẩm xuất hiện dưới một hình thái rất “kỳ lạ”, giống như những “con người Phỏng” chỉ còn là phương tiện, “dụng cụ” mà tác giả sử dụng nhằm chứng minh cho những Thiên Kiến của mình mà thội!
2) CÁI NHÌN TOÀN THỂ
Đường lối thứ hai chủ trương nhìn Tác Phẩm dưới ánh sáng TOÀN THỂ. Người theo đường lối này có thể có tất cả những kiến thức mà tác giả đã liệt kê ở trên và còn nhiều hơn thế nữa, nhưng tất cả đã được TIÊU HÓA hết rồi! Và người đó đi tới “điểm hẹn” với tất cả TÂM HỒN của một người đọc hầu tiếp cận với chính TÂM HỒN của Tác Giả (ở đây NGUYỄN DU) qua trung gian của Tác Phẩm (ở đây “Truyện KIỀU”). Điều gì sẽ xẩy đến ?
Trước khi đến với Tác Phẩm, người đọc đã có sẵn một Lối Nhìn về Cuộc Đời kèm với nhiều điều khác….Nhưng sau đó, vì Tâm Hồn người đọc đã thay đổi khi tiếp cận với Tác Phẩm, nên Lối Nhìn cũng thay đổi theo. Ngược lại, Tác Phẩm cũng nhận được những “ánh sáng” mới từ người đọc. Đó có lẽ là điều mà Gadamer ám chỉ qua chủ đề “Hợp Nhất các Chân Trời” (the Fusion of Horizons) chăng?
3) NỘI DUNG TÁC PHẨM: KHÔNG PHẢI GADAMER MÀ LÀ HEGEL
Bây giờ, chúng ta thử đi vào Nội Dung bài viết với nhiều Chi Tiết hơn. Tuy nói ngoài miệng là muốn áp dụng Tư Tưởng Gadamer liên quan đến khía cạnh “dung hợp” hay “hợp nhất” , nhưng trên thực tế vì còn giữ lại nhiều “phản xạ” cũ nên tác giả chỉ dừng lại ở đợt Biện Chứng Pháp kiểu Hegel hay Marx, chứ không tiến xa hơn. Chúng tôi thử trích dưới đây một đoạn trong bài viết của tác giả:
” Hòa là mục đích của mỗi giai đoạn, và hòa cũng là mục đích cuối cùng mà ta gọi là thái hòa. Để đạt tới hòa, không có cách thế nào hay hơn là hợp. Hợp các cực……để đi tới cái tổng hợp cuối cùng là thái hòa”
Bây giờ chúng tôi xin thử viết lại đoạn trên của tác giả bằng những thuật ngữ của chính Hegel:
“Tổng Đề là mục đích của mỗi giai đoạn, và Tổng Đề là mục đích cuối cùng mà ta gọi là Tinh Thần tuyệt đối. Để đạt tới Tổng Đề , không có cách nào hay hơn là Hợp (tức hợp Chính Đề và Phản Đề) .Hợp các Cực để đi đến cái Tổng Đề cuối cùng là Tinh Thần tuyệt đối”
Điều trên cho thấy rằng thực chất bài viết của tác giả có nội dung là Biện Chứng Pháp HEGEL được “ngụy trang” bằng các thuật ngữ “Tam Tài” của Nho Giáo. Mà ta biết rằng MARX đã “lật ngược” Biện Chứng Pháp DUY TÂM của Hegel để biến thành DUY VẬT. Do đó, không lạ gì về hiện tượng xảy ra là trong bài viết , tác giả đã dùng rất nhiều thuật ngữ MÁC XÍT để phê bình xã hội PHONG KIẾN và TƯ BẢN. Chẳng hạn:
“Giai đoạn mâu thuẫn được lý giải như là giai đoạn dị hóa (Entaeusserung), hay tha hóa (Entfremdung), vong thân hay vật hóa (Verdinglichung)”.
Hoặc “ Từ đây ta bắt đầu thấy được thảm kịch của dị hóa ( con người xa lạ với chính mình), vong thân ( đánh mất mình) và tha hóa như vật hóa, thương mại hóa (coi con người như đồ vật, sản phẩm, hàng hoá).”
Tác giả còn đi xa hơn nữa bằng mối liên hệ “bất ngờ” giữa Tú Bà và ý niệm “Tư Bản Thặng Dư”.Tác giả viết: ” Tú Bà, và phần đông xã hội coi con người như là sản phẩm, hàng hóa giao dịch. Có thể dùng tiền để mua, và tạo ra tư bản thặng dư”.
Ngoài Hegel và Marx, tác giả còn ÁP ĐẶT các Phạm Trù khác của Văn Hóa Triết Học Tây Phương trên Văn Hóa VIỆT như thuyết Duy Nhân (anthropocentrism) hay Duy Cá Nhân (Individualism) phát triển mạnh ở thời Phục Hưng (Renaissance), khi xã hội Tây Phương vừa thoát ra khỏi ách nặng nề của Tôn Giáo suốt thời Trung Cổ. Tác giả viết: “ Quá ỷ vào tài năng của riêng mình tức là chủ trương duy nhân (anthropocentrism) và duy cá nhân (individualism). Chủ thuyết duy nhân lấy con người làm mục đích tối hậu, và coi con người như là trung tâm, chủ tế, hoàn toàn vượt lên trên mọi nguyên lực khác. Đồng lúc chủ thuyết này coi thiên nhiên, thần linh chỉ là những công cụ phục vụ con người. Con đẻ của chủ thuyết duy nhân là chủ thuyết duy cá nhân cực đoan (individualism). Tín đồ của chủ thuyết duy cá nhân này đi xa và mạnh hơn. Họ coi ngay cả người khác cũng chỉ là công cụ phục vụ họ. Sự phân biệt giai cấp chủ ông và giai cấp nô lệ là hệ từ tất yếu của chủ thuyết này”.
Vấn đề ở đây là đoạn văn trên có thể diễn tả đúng thực tế Văn Hóa, Xã Hội Tây Phương, nhưng KHÔNG THÍCH HỢP lắm khi đem mô tả bầu khí Văn Hóa VIỆT!
Tiếp tục đường lối tiếp cận Tác Phẩm một cách “cưỡng ép “ tương tự ở trên , tác giả đặt ra những vấn đề GIẢ TẠO mà trên thực tế thuộc môi trường Văn Hóa Tây Phương, nhưng một lẫn nữa đã bị tác giả “áp đặt” lên trên nền Văn Hóa VIỆT . Chẳng hạn:
“Thoạt tiên, nếu nhìn từ góc độ tư duy theo quy luật toán học (logic toán học), Nguyễn Du không theo (hay không chấp nhận) nguyên lý căn bản của toán học , đó là nguyên lý đồng nhất (the principle of identity), và nguyên lý bất mâu thuẫn (the principle of non-contraction)”.
Thật ra, các nguyên lý nêu trên ngay bên Tây Phương đã “hết xài” ở đợt “Hạ Nguyên Tử” (sub-atomic) từ lâu rồi, thì “có ăn nhằm” gì đâu đến Nguyễn Du và “truyện Kiều” mà tác giả phải nhắc đến?! Thật ra, đặt ra cho “ có chuyện” vậy thôi để mà tác giả có thể viết tiếp là theo “logic toán học “ vừa nêu thì “trong Truyện Kiều, nhiều quan niệm được trình bày, thoạt xem có vẻ bất nhất (inconsistent) và đặc biệt, mâu thuẫn (contradictory) và hỗn tạp (confused)”.
Thì đó là chuyện Dĩ Nhiên! Một bên là thế giới “hàn lâm”, bên kia là Cuộc Đời THẬT, thì làm sao mà hiểu nhau được ? Đúng là GIẢ TẠO! Chưa hết! Lại thêm một vấn đề tương tự khác. Tác giả viết : “Mục đích của tư duy là gì? Tư duy để “trí tri cách vật” thỏa mãn sự ham biết (hay tọc mạch), hay để gìải quyết vấn nạn nhân sinh ?”
Câu trên tác giả nên đem đi hỏi Socrates thì đúng hơn là hỏi Khổng Tử vì Socrates chủ trương: “Trí Thức đã là Nhân Đức rồi” (= le Savoir est déjà la Vertu) nên theo Socrates, khỏi cần Thực Hành làm chi ! Trái lại, Khổng Tử không bao giờ chủ trương như vậy cả!. HỌC luôn luôn đi với HÀNH nên mới gọi là “Học Hành”, hay theo Vương Dương Minh phải “Tri Hành Hợp Nhất”!
Tuy nhiên, điều NGUY HẠI nhất nằm trong bài viết của tác giả là việc ÁP ĐẶT cái Khung Ý THỨC HỆ được xây dựng trên Mô Thức Biện Chứng Pháp kiểu HEGEL hay MARX. Tác giả mở đầu bằng việc ĐẶT ĐỊNH ĐỀ như sau:
“Chúng tôi đã đưa ra giả thuyết là Nguyễn Du hiểu như vậy khi thi hào bắt đầu với sự kiện con người có tài(tài nhân) ỷ lại vào tài năng thiên bẩm của mình, mà quên yếu tố nhân hòa. Chính sự bất hòa giữa ba thế lực Trời Đất và con Người đã tạo nên bi kịch tha hóa của Thúy Kiều, Đạm Tiên và phần nào trong các tài nhân Từ Hải và cả Kim Trọng lẫn Hồ Tôn Hiến…..”
Như đã nói ở trên, tuy sử dụng Ngôn Ngữ của NHO nhưng trên thực tế, tác giả đã tuân thủ theo Mô Thức và Nội Dung của Biện Chứng Pháp HEGEL như thấy sau đây:
_ “Giai đoạn thứ nhất (tức CHÍNH ĐỀ ), phát động năng lực (tài) thiên bẩm phù hợp với chính mình”
Và các Nhân Vật trong Tác Phẩm được tác giả sắp xếp trong cái KHUNG Ý Thức Hệ đã có sẵn. Tác giả viết:
“Họ thường được đồng hóa tài năng với sức lực hay sức mạnh, và cả với quyền lực. Từ Hải là một tài năng võ biền dựa trên sức mạnh bạo lực. Kim Trọng là một văn tài dựa trên những kiến thức, kỹ thuật văn chương. Kiều là một mỹ nhân dựa trên sắc đẹp và nghệ nhân dựa vào những nghệ thuật như cầm kỳ thi họa. Hồ Tôn Hiến là một tài trí với mưu trí hơn người. Tất cả những tài nhân đều nghĩ rằng , với cái tài của mình, họ có thể thay đổi vận mệnh.”
_ “Giai đoạn thứ hai (tức PHẢN ĐỀ) là sự đối nghịch giữa cái tài chỉ dành cho chính mình, và tác động phát huy tài năng phục vụ xã hôi, đất nước. Giai đoạn này nói lên tính chất mâu thuẫn giữa luật vị kỷ, dùng tài năng cho mình, và luật hòa hợp, dùng tài năng để tạo thái hòa. Ta thấy sự đối nghịch giữa tài và mệnh, giữa con người cá nhân và xã hội. Đây là giai đoạn bất hòa…”
Chúng ta thấy “bóng dáng” của HEGEL “lảng vảng” ở phía sau đoạn văn trên của tác giả với chủ đề quen thuộc của Hegel về sự MÂU THUẪN giữa Cá Nhân và Nhà Nước và thế TẤT THẮNG của NHÀ NƯỚC mà Hegel miêu tả như là tiêu biểu cho “Bánh Xe Lịch Sử”!
Tác giả viết tiếp: “Nhưng rồi tất cả đều thất bại, người thì thân bại danh liệt (Kiều, Từ Hải), người thì thiếu thốn tình yêu và đau khổ, chẳng ai làm nên được gì có lợi cho hậu thế, cho con người, cho xã hội cả. Vậy thì, lý do thất bại của tài nhân phải được lý giải như thế nào? Quá ỷ vào tài năng của riêng mình tức là chủ trương duy nhân (anthropocentrism) hay duy cá nhân (individualism)…..”
Tác giả lại dùng các thuật ngữ MÁC XÍT để giải thích tiếp: “Từ đây ta bắt đầu thấy được thảm kịch của dị hóa (con người xa lạ với chính mình), vong thân (đánh mất mình) và tha hóa như vật hóa, thương mại hóa (coi con người như đồ vật, sản phẩm, hàng hóa)”.
_ “Giai đoạn ba (tức TỔNG ĐỀ) nói lên việc tài nhân đã ý thức được sự bất hợp (tức MÂU THUẪN), và tu luyện bằng cách phát huy tài hay năng lực hòa hợp với Trời Đất và con người (tức Giải Quyết MÂU THUẪN). Con người chỉ có thể tìm ra được chính mình (tức hết VONG THÂN) trong sự hòa hợp (tức TỔNG ĐỀ). Và như vậy, cho đến khi nào ở trong tình trạng thái hòa (TỔNG ĐỀ Cuối Cùng tức TINH THẦN Tuyệt Đối), thì lúc đó quá trình biện chứng mới dừng lại”.
Với lăng kính Ý THỨC HỆ hẹp hòi nêu trên mà tác giả muốn áp dụng vào Tác Phẩm, chúng ta thử xem cái gì còn lại dưới ngòi bút của tác giả về Nàng KIỀU của chúng ta, một Phụ Nữ Thông Minh Tằi Sắc , nhưng đầy lòng NHÂN HẬU, TÌNH NGƯỜI, chỉ vì Nghịch Cảnh mà Nàng phải trải qua “biết bao dặm trường”!
Tác giả viết: “Kim Trọng đến với Kiều vì sắc và sau nữa là vì tài, Kiều đến với Kim Trọng cũng là chàng Kim “phong tư tài mạo tốt vời/ vào trong phong nhã ra ngoài hào hoa”
Họ còn trẻ nên điều đó cũng Bình Thường thôi! Nhưng quan trọng hơn nữa là đó CHỈ là điểm Khởi Đầu mà thôi!
Tác giả viết tiếp : “Tương tự, tài nhân Kiều cũng nhìn nam nhi theo bảng giá trị của uy lực (Từ Hải). quyền thế (Hồ Tôn Hiến), hay tiền bạc (Thúc Sinh). Nàng Kiều nghĩ rằng có thể dùng tiền để đo lường cái tài sắc và đạt tới mục đích (chuộc cha).
Quả là OAN cho Nàng KIỀU !!!
Tác giả tiếp tục : “Tài nhân Thúy Kiều, sau khi đã thất bại không thể dùng cái sắc thiên phú của mình để giải quyết cái nạn gia đình, đã phải tự hạ mình xuống thành một món hàng đổi chác, bán mình để chuộc cha. Cô ý thức được mình chỉ là một trò chơi mua vui cho bọn Mã Giám Sinh và làng chơi, vân vân.”(Sic !!!)
Vì chữ HIẾU, KIỀU phải tìm mọi cách để Cứu Cha, chứ NÀNG có nghĩ gì khác nữa đâu ???!!!
Tác giả còn viết: “Sắc đẹp, tài năng của Kiều làm nhà họ Vương sáng mày, khiến Kiều thành “minh tinh” lôi cuốn chú ý của người khác”.
Ở đây, tác giả “phóng ảnh” tâm lý của phụ nữ ngày nay lên KIỀU.
Do đó, một lần nữa lại OAN cho Nàng KIỀU của chúng ta ???!!!
Phần trên đây trình bày đại khái nội dung bài viết được tác giả bổ túc bằng các phương pháp “Tu Thân” của Nho Giáo hay “ Tu Tâm” của Phật giáo. Phần còn lại của bài viết là sự lập di lập lại nhiều lần chủ đề chính của tác giả mà thôi!
Để tóm tắt phần trình bày ở trên, , thay vì “tiêu hóa” “mớ” kiến thức “kềnh cơi” của mình , rồi đi theo lối TOÀN THỂ Trực Tiếp và bằng cả TÂM HỒN tiếp cận với Tác Giả, Tác Phẩm và các Nhân Vật, tác giả lại đi theo lối PHÂN TÍCH ra từng phần từng mãnh, rồi ÁP ĐẶT cái KHUNG Ý Thức Hệ “tiên thiên” (a priori) là Biện Chứng Pháp kiểu Hegel hay Marx. Hệ quả của công việc trên là thay vì tiếp cận với những con người Sống Động “bằng xương bằng thịt” chỉ có được với lối nhìn TOÀN THỂ, thì với lối nhìn PHÂN TÍCH mà tác giả áp dụng chỉ còn lại từng MÃNH từng PHẦN của cái gọi là “Người” (hay là “Ngợm” ?!) .Lý do, nói theo ngôn ngữ của Tư Duy Thống Hợp (Systems Thinking)” là Tính Chất của TOÀN THỂ luôn luôn KHÁC với sự Cộng Lại của TỪNG PHẦN”!10)
E) CÁC BÀI VIẾT KHÁC VỀ “TRUYỆN KIỀU”
Để “rộng đường dư luận” cũng như giúp chúng ta cơ hội so sánh bài viết của tác giả với bài viết của các tác giả khác về “Truyện KIỀU” để cho việc thẩm định đạt được sự VÔ TƯ Tối Thiểu. Chúng tôi xin trích dẫn sau đây ba bài viết:
_ một của một nhà Nguyên Cứu BÌNH THƯỜNG
_ một của một nhà Nghiên Cứu SÂU SẮC
_ một của một TRIẾT GIA
Ngoài ra, chúng tôi cũng dùng một Tiêu Chuẩn khác để chia các bài viết ra làm hai loại:
_ Cái Nhìn “Hiện Nghĩa”
_ Cái Nhìn ‘Ẩn Nghĩa”
1) CÁI NHÌN “HIỆN NGHĨA”: MỘT NHÀ NGHIÊN CỨU BÌNH THƯỜNG
Tác giả viết : “Truyện Kiều không phải là một truyện tình như Hoa Tiên, lại càng không phải là một truyện luân lý như Lục Vân Tiên, chỉ là một truyện tả thân phận con người_ đúng hơn là thân phận của một người đàn bà tài sắc_ trước định mạng. Điều đó ai cũng nhận ra, chính tác giả cũng đã nói rõ cho ta thấy ngay ở đầu truyện và cuối truyện rối nhắc đi nhắc lại không biết mấy lần nữa trong truyện và cuối truyện…….
Một tác phẩm dài, nhưng tình tiết và bất hủ như truyện ấy thì đứng về phương diện nào mà xét cũng có lí ít nhiều…….Đã chẳng có người khen Nguyễn Du khi viết: “Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài” là nắm được một chân lý huyền ảo: cái tâm gồm cả tam tài thiên địa nhân đấy ư?”…….
Ôn lại tất cả những việc thường và biến xảy ra trong đời nàng Kiều, ta thấy như có một bàn tay nào đó sắp đặt trước mọi việc một cách chu đáo và cay nghiệt để bắt nàng chịu một kiếp đoạn trường kéo dài tới mười lăm năm.
Sinh đôi với Thúy Vân mà tính tình nàng khác hẳn. Vân thì vô tình, vô tâm, gần như đần độn ; Kiều thì sắc sảo, thông minh , đa tài, nhất là đa tình, đa cảm tới nỗi đi tảo mộ, gặp một nấm mộ vô chủ cũng sụt sùi……rồi lại coi Đạm Tiên là chị em với mình nữa….
Hồn ma Đạm Tiên trước sau chỉ thoáng hiện ba bốn lần mà đóng một vai trò quan trọng hơn hết những nhân vật khác trong đời nàng Kiều. Nó là “chị em” với Kiều, nó là phần “ u”, còn Kiều là phần “hiển”, nó là tiềm thức của Kiều, nó là tay sai của định mang “đưa lối”, “đưa đàng”, xui nàng “tìm chốn đoạn trường mà đi”…..
Thành thử suốt mười lăm năm, nàng như sống trong một giấc mộng, bị hồn ma Đạm Tiên mê hoặc, bị tiềm thức chi phối, không lúc nào làm chủ được mình, bẩm tính thông minh mà mấy lần quyết định mù quáng, hai lần tự tử chỉ là để lún thêm vào cõi nhục, bốn lần vùng vẫy_ khi trốn theo Sỏ Khanh, khi mưu hạnh phúc với Thúc Sinh, khi trốn nhà Hoan Thư , khi khuyên Từ Hải ra hàng_ thì mỗi lần như chỉ để tự hủy thêm tấm thân, để cho lưới định mạng thắt chặt lại thêm nữa”……
Bi đát nhất là cái định mạng đó cứ nhè những bậc tài tình mà đầy đọa. Những hạng như Thúy Vân thì được sung sướng, hạng như Thúy Kiều mới bị chìm nổi:
“ Nhất phiến tài tình thiên cổ lụy” (Phạm Quí Thích)
Nhưng chính cái lụy đó, cái nhục đó lại là cái vinh của con người. Đọc truyện Kiều, có ai yêu được Thúy Vân, hay chỉ có những người khóc cho nàng Kiều, làm thơ vịnh nàng Kiều, mơ mộng nàng Kiều, khan vái nàng Kiều; và đồng thời với Nguyễn Du, biết bao người được trời cho “thanh cao” hơn Tiên Sinh, mà đến nay còn gì, có ai nhắc tới, nhớ tới ? Vậy thì không bị cái “thiên cổ lụy “ kia, tất không có cái “tân thanh” này, cái “tân thanh” đã trên hai trăm năm nay rồi vẫn cứ mỗi ngày một vang thêm”(11)…..
Chúng tôi gọi bài viết nêu trên là có tính chất BÌNH THƯỜNG, “Phải Đạo” nói lên được một khía cạnh của Tác Phẩm, khía cạnh Rõ Nhất về phương diện Ý NGHĨA : Thân Phận Con Người trước Định Mạng.
2) CÁI NHÌN “ẨN NGHĨA”
a) “TÂM ĐẠO TRONG “ KIỀU”: MỘT NHÀ NGHIÊN CỨU SÂU SẮC
SÂU SẮC hơn bài viết trên là bài viết sau đây về “Truyện KIỀU. Tác giả viết:
» .....chúng ta cũng còn tìm thấy dấu chỉ An Vi và Tả Nhậm của Văn Hóa Việt qua hai câu thơ tiêu biểu, là triết lý Việt mà cũng là kết luận của áng thơ trác tuyệt là TRUYỆN KIỀU của thi hào Nguyễn Du:
Thiện căn ở tại lòng ta,
Chữ TÂM kia mới bằng ba chữ tài.
Thật thế, cuộc đời của Thúy Kiều trong tác phẩm Nguyễn Du thì trải qua bao là thương khó, khổ nạn dập vùi. Nhưng xét từ đầu, nếu Kiều cũng vô tư vô lự như em là Thúy Vân, thì với tài sắc ấy, cuộc đời Kiều phải được hưởng phú quý hơn cả em nàng. Nhưng mà bởi vì một tấm lòng của người con Chí Hiếu mà đời Thúy Kiều truân chuyên, bạc mệnh.
Nguyễn Du tuy viết với chữ phương Nam ( Nôm) thi ca Truyện Kiều từ tác phẩm văn xuôi“ Kim Vân Kiều truyện” bằng Hán văn của Thanh Tâm Tài Nhân bên Tàu, nhưng xét kỹ, tác phẩm của Nguyễn Du đã làm nổi nét đặc trưng của Văn Hóa Việt mà không có trong văn bản của Tàu. Với bản gốc, TTTN không có cái nhìn về Kiều sâu sắc với Tâm Đạo, TTTN chỉ muốn nói đến cái luận thuyết “ hồng nhan đa truân” mà thôi.Và kết thúc bằng cảnh cả nhà xum hơp phú quý vui vầy. Nhưng khi đến tài hoa và tâm tư của thi hào Đất Việt, thì tòan cảnh đọan trường hầu như bị xóa mờ với cái trị giá đích thực nơi Nội Tâm con người. Kết thúc với Tâm Đạo là Cuối Cùng Con Người Đã Thắng. Như Kim Trọng đã ân cần trân quý người xưa trong buổi đòan viên:
Gương trong chẳng chút bụi trần,
Một lời quyết hẳn muôn phần kính thêm.
Thật thế, con người có giá trị nội tâm thanh cao trôi trong mọi ngọai cảnh, như giọt nước lăn tròn trong suốt trên lá sen, nào có ngập ngừng, vẩn đọng.
Với cái nhìn giới hạn, Thanh Tâm Tài Nhân đã chỉ thấy được cái lý thuyết “tương đố” sáo mòn của “Tài và Mệnh”. Có nghiã là người tài thường bị cái mệnh là nghịch cảnh làm hại, phải gian nan, khốn khổ vì cái tài của mình. Như thế, quả con người chỉ là nạn nhân, nô lệ của ngoại cảnh, không có một lối thoát nào hơn là chấp nhận cái vòng oan nghiệt của định mệnh.
Nhưng thừa hưởng tinh hoa Việt Nho trong tiềm thể Tâm Linh, Việt là Vượt Lên, Vượt Qua…Nguyễn Du đã khai phá một chân trời Tự Do của ý thức Nhân Chủ qua các hành sử của Kiều theo Tâm Đạo. Một việc ý nghĩa như Kiều trong truyện Tàu thẳng tay cho đánh Hoạn Thư một trận đòn trả thù lẩn quẩn oan khiên, nhưng Thuý Kiều Việt của Nguyễn Du sau khi nghe lời nói chạy tội nhu thuận của người đàn bà khôn khéo thì lại mở tâm từ:
Tha ra thì cũng may đời,
Làm ra thì cũng ra người nhỏ nhen.
Đã lòng tri quá thì nên,
Truyền quân lệnh xuống trướng tiền tha ngay.
Nhất là trong tiếng đàn Nguyệt của Thuý Kiều mà nghe được cả cái “vô thanh” của nội tâm thì cũng chỉ riêng tài hoa Nguyễn Du mới cực tả được:
Sân sau treo sẵn cầm trăng,
Vội vàng Kim đã tay nâng ngang mày.
Nàng rằng : “ Nghề mọn riêng tay,
Làm chi cho bận lòng này lắm thân”.
So dần dây vũ, dây văn,
Bốn dây to nhỏ theo vần cung, thương.
Khúc đâu Hán, Sở chiến trường,
Nghe ra tiếng sắt, tiếng vàng chen nhau.
Khúc đâu Tư Mã Phượng Cầu,
Nghe ra như oán, như sầu, phải chăng?
Kê Khang này khúc Quảng Lăng,
Một rằng Lưu Thuỷ, hai rằng Hành Vân.
Quá quan này khúc Chiêu Quân,
Nửa phần luyến chúa, nửa phần tư gia.
Trong như tiếng hạc bay qua,
Đục như nước suối mới sa nửa vời.
Tiếng khoan như gió thoảng ngoài,
Tiếng mau sầm sập như trời đổ mưa.
Đàn Kiều thương cảm quá, đến nỗi người tri kỷ của nàng là Kim Trọng phải kêu than:
Ngọn đèn khi tỏ khi mờ,
Khiến người ngồi đó cũng ngơ ngẩn sầu.
Khi tựa gối, khi cúi đầu,
Khi vò chín khúc, khi chau đôi mày.
Rằng: “ Hay thì thật là hay,
Nghe ra ngậm đắng nuốt cay thế nào!...”
Vậy mà cũng người xưa, cũng tiếng đàn xưa, trong buổi đoàn viên, Đàn Kiều đan thanh:
Phím đàn dìu dặt tay tiên,
Khói trầm cao thấp, tiếng huyền gần xa.
Khúc đâu đầm ấm dương hoà!
Ấy là Hồ Điệp hay là Trang Sinh?
Khúc đâu êm ái xuân tình,
Ấy hồn Thục Đế hay mình Đỗ Quyên?
Trong sao châu rõ dềnh quyên,
Ấm sao hạt ngọc Lam Điền mới đông!
Và chỉ riêng với cảm nhận tuyệt vời trong tương giao hữu hạn với vô biên của âm thanh tiếng đàn Kiều, Nguyễn Du mới gọi tên tác phẩm mình là “Đoạn Trường Tân Thanh”, mới đưa ra được một lời kết thâm trầm, hào sảng và an nhiên tự tại với nguyên lý nền tảng của Triết Việt, “ Thiện Căn ở tại lòng ta, Chữ Tâm kia mới bằng ba chữ tài”, mà sau này thiên tài Triết học Kim Định gọi là AN VI.
Thật thế, An Vi là Sống với Vô biên trong đời Hữu hạn, cho nên đặt nổi yếu tố Tâm Đạo giữa bao nghịch cảnh trầm luân của cuộc đời biến động ba đào. Với kết thúc Truyện Kiều bằng Tâm Đạo, tài hoa Nguyễn Du đã đưa Thi Ca về với ngọn nguồn Minh Triết Việt.(12)
b) BÓNG NGƯỜI “ĐẠI NGÃ TÂM LIMH” HAY “SƠ NGUYÊN TƯỢNG” TRONG “TRUYỆN KIỀU”
Trên đây là bài viết rất Sâu Sắc của Nữ Sĩ Đông Lan vè TÂM ĐẠO trong “Truyện KIỀU” được tiếp noái bởi bài viết sau đây của Cố Triết Gia Kim Định về Từ Hải như là “Bóng Người Đại Ngã Tâm Linh” hay là Sơ Nguyên Tượng của Văn Hóa VIỆT được thể hiện trong “Truyện KIỀU” của Thi Hào Nguyễn Du.
“Đại Ngã Tâm Linh được Việt Nho biểu thị bằng số 5 (giao chỉ của 3 trời 2 đất) được bồng trong tay Nữ Oa Nghi Mẫu hoặc bằng những Sơ Nguyên Tượng khác (archetypal image) như Ău Cơ, Lạc Long, Hùng Vương… Trong Kiều là Từ Hải. Ở Hiện Nghĩa, Từ Hải là vai tuỳ, Kiều là chính, nhưng trên tầng Ẳn Nghĩa, Kiều chỉ là cây cầu bắc sang bờ bên kia để gặp mục tiêu là Từ Hải, nên Từ Hải không những là vai chính mà còn là bóng dáng của con người Đại Ngã Tâm Linh hiện thân của nền Nhân Chủ triết lý của Việt Tộc, dấu hiệu là “họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông”. Khởi từ số 1 (Hải: hành thuỷ số 1) xuyên qua số 2 (gồm 2 văn võ) và số 4 (thay chàng Kim, hành kim số 4) tới số 3 Việt Đông (Đông số 3) để khắc phục số 5 (năm năm hùng cứ một phương hải tần,). Số 5 chỉ Đại Ngã thành bởi số 3 trời 2 đất (nhân giả kỳ thiên địa chi đức) trong truyện đựơc biểu thị bằng vai Từ Hải, nên ta năng gặp số 5 đi kèm.
Râu hùm hàm én mày ngài
Vai năm tấc rộng thân mười thức cao…
Trước cờ ai dám tranh cường
Năm năm hùng cứ một phương hải tần…
Triều đình riêng một góc trời,
Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà.
Đòi cơn gió táp mưa sa
Huyện thành gập đổ năm tòa cõi nam…
Rằng Từ là đấng anh hùng,
Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi…
Vẫy vùng trong bấy nhiêu niên
Làm nên động địa kinh thiên đùng đùng
Bảo cho hội họp chi kỳ
Năm nay là một nữa thì năm năm…
Những chữ dọc ngang, trời rộng, vẫy vùng bể khơi cũng như “làm nên động địa kinh thiên đùng đùng” đều ăn với huyền số 5 nhắc đi nhắc lại. Số 5 đưa Từ Hải lên bậc lớn lao như vũ trụ. Đó là điểm một, chứng tỏ bằng huyền số rằng Từ Hải là vai chính.
Điểm hai là danh tính ta thấy cũng nói lên bản chất của nhân vật: Từ Hải chính là kết tinh của thuyền tình bể ái. Từ Hải có nghĩa là bể từ bi, là:
Tình thâm bể thẳm lạ điều,
Mà hồn tinh vệ biết theo chốn nào?
Tình thâm bể thẳm cùng với bể ái là một: điều chỉ đức đại từ, đại bi, chí nhân, chí dũng. Bao la như trời bể gồm Trí, Nhân, Dũng; mênh mông như vũ trụ để có thể yêu khắp loài người, nên khi bị đàn áp thì chống lại cách kinh thiên động địa. Đó là căn nguyên của đức Tự Cường bất khuất của dân tộc, mà đại biểu là Nguyễn Thái Học, Quang Trung, Cao Bá Quát, Nguyễn Trãi, Trần Hưng Đạo, Ngô Quyền, Bà Trưng, Bà Triệu… với những trận đánh long trời động đất: đánh Nguyên, chống Tống, đuổi Thanh… Tất cả đều biểu lộ cho đức Nhân mênh mông, cho “tình thâm biển cả”, chỉ vì cái thế bó buộc không thể hiện thực được tấm lòng từ ái nhân hậu cách tích cực đành phải đi lối tiêu cực là đả phá gông cùm: Từ Hải chính là Mẫu Mực Tối Sơ của đức Chí Nhân nọ.
“Phong trần mài một mũi gươm,
Những phường giá áo túi cơm xá gì.
Nghênh ngang một cõi biên thuỳ…”
Vì nghênh ngang nên bị người đời không nhìn ra chân tướng. Tự Đức đã lên án Nguyễn Du đáng đánh ba mươi trượng vì tội quá đề cao “một tên phản loạn”. Những đầu óc duy lý kiểu Tự Đức đã dám chối bỏ Huyền Sử, cho những truyện trong Kinh Hùng là trâu ma thần quái thấy sao được “tình thương bể thẳm lạ điều”. Cả bao thế hệ học giả cũng không thấy, không hiểu được Thi Bá. Người ta tìm ẩn ý cụ trong việc phục hồi nhà Lê. Nếu đúng cũng chỉ đúng một phần nhỏ. Phần lớn thâm sâu hơn nhiều, nằm trong vai Từ Hải. Không hiểu Từ Hải như linh hồn Việt Lý thì không hiểu được Thi Bá. Hơn thế cả Thi Bá cũng không hiểu hết được mình, vì vai Từ Hải là một Hồn Thiêng thuộc cõi bao la Vô Thức, được dựng nên không do ý thức của cá nhân Nguyễn Du, mà xuyên qua người là Tiềm Thức Cộng Thông dân tộc: phải là tiềm thức cộng thông mới đủ mắt “tinh đời nhận diện được anh hùng trần ai”. Đó là đại chúng, đại chúng nhận diện được vì Tâm không bị vướng mắc vào ý hệ nên đã thấy sự thực; mỗi khi dân chúng bói Kiều bao giờ cũng mở đầu khấn Từ Hải trước hết:
Lạy vua Từ Hải
Lạy vãi Giác Duyên…
Sau mới đến các nhân vật khác.
Điểm ba là đường đi nước bước của Từ Hải thật là uy linh lừng lẫy, chưa cần dùng đến cơ cấu (số 5 và tên gọi) chỉ xem cung cách được tả lại đã đủ thấy rõ Từ Hải xuất hiện như con người lớn lao cấp vũ trụ, tức cũng là hình ảnh con người lý tưởng của Việt Tộc được biểu lộ ngay từ tên của nơi xuất xứ: Việt Đông.
Đường đường một đấng anh hào,
Côn quyền hơn sức lược thao gồm tài.
Đội trời đạp đất ở đời,
Họ Từ tên Hải vốn người Việt Đông.
Việt Đông theo nghĩa hẹp là Việt Chiết Giang kinh đô Cối Kế. Sách Hậu Hán Thư Địa Lý Chí viết: “Từ Giao Chỉ đến Cối Kê trên bảy tám ngàn dặm, người Bách Việt ở xen nhau đều có chủng tính”. Trường hoạt động của Từ Hải là bảy tám ngàn dặm mênh mông nọ. Vậy mà đó mới là nghĩa hẹp, cần vượt phạm trù không thời gian để lần về địa bàn tổ của Việt tộc xa xưa nữa sẽ thấy nó trùm khắp nước Tàu. Rồi rút dần, rút dần: đợt nhất thu mình vào hai châu Kinh và Dương (Kinh Dương Vương: Lộc Tục) một cặp danh xưng co dãn bao gồm cả miền Kinh Sở, cả miền duyên hải nước Tàu từ bể Bột Hải (Liêu Dương) và Bắc Kinh chạy qua Sơn Đông, An Huy, Từ Châu, Giang Tô, Chiết Giang duỗi chân xuống Ngũ Lĩnh, Phúc Kiến, Quảng Đông, Việt Nam. Đó! Môi trường hoạt động của Từ Hải là thế, vì đó chính là môi trường của triết lý Việt Tộc.
Đến đây ta có thêm chứng lý để tin rằng Nguyễn Du đã viết dứơi sự dẫn dắt của Tiềm Thức Cộng Thông, nên đặt truyện trong bối cảnh lớn lao nọ để Từ Hải dễ xuất hiện như hình ảnh con người lý tưởng của dân tộc.
Một tay gây dựng cơ đồ,
Bấy lâu bể Sở sông Ngô tung hoành.
Bể Sở sông Ngô là danh xưng chỉ cái miền mênh mông với bờ cõi chập chờn là địa bàn Tổ của Việt Nho, chiếu giải vào 15 năm lưu lạc của Kiều làm nổi lên mối liên hệ ngầm với 15 bộ nước Văn Lang, nên con số 15 năm được lắp đi lắp lại nhiều lần.
Mười lăm năm bấy nhiêu lần,
Làm gương cho khách hồng quần thử soi.
Từ con lưu lạc quê người,
Bèo trôi sóng vỗ chốc mười lăm năm…
Những là rầy ước mai ao,
Mười lăm năm ấy biết bao nhiêu tình.
Những từ sen ngỏ đào tơ,
Mười lăm năm mới bây giờ là đây…
Khi lắp lại nhiều lần thỉ phải có liên hệ nào đó. Nó chỉ 15 bộ nứơc Văn Lang cũng là trường hoạt động của con người Nhân Chủ mà ấn tích bên ngoài là Việt Nho. Việt Nho là một nền triết Nhân Chủ nhưng đã nhiều lần bị các làn sóng du mục Tây Bắc tràn ngập làm cho biến thể thành ra Hán Nho với những yếu tố chuyên chế. Thế nhưng Việt Tộc vẫn tranh đấu kiểu này hay kiểu khác, từ những tên Huyền Sử như Tam Miêu, Li Vưu, trải qua các đời như Đổng Trọng Thư, Phạm Trọng Yêm, Vương Dương Minh, Thị Nại Am, cả đến những cuộc nổi dậy của Xích Mi, Hoàng Cân, Quyền Phỉ, mỗi lần nói lên được một phần nào của cái óc Tự Cường tự lực. Ngoài ra tinh thần đó cũng được thể hiện vào những vai chính trong các tiểu thuyết như Tôn Ngộ Không, Thánh Dóng, Tống Giang… Từ Hải là hình ảnh của một Thánh Dóng, một Tôn Ngộ Không, tức một nhân vật chống chính quyền chuyên chế để bênh vực dân gian, bênh vực quyền làm người. Có thể nói là hình ảnh của Hùng Vương, mẫu mực của con người hùng vĩ, tự cường, nhưng ở đây lật ngược để thấy chiều chống phá.
Đại Vương tên Hải họ Từ,
Đánh quen trăm trận sức dư muôn người.
Phong trần mài một mũi gươm,
Những phường giá áo túi cơm xá gì.
Nghênh ngang một cõi biên thuỳ,
Thiếu gì cô quả thiếu gì bá vương.
Trước cờ ai dám tranh cường,
Năm năm hùng cứ một phương hải tần.
Muốn biết kẻ nào là”những phường giá áo túi cơm” thì nên nhớ lại truyện Thuỷ Hử với vua quan triều đình toàn là loại đỉa đói, mà Tống Giang với đồng bọn đã có công đạp đổ. Đó không là tướng cướp. Họ chính là những hiệp sĩ đầy ứ tinh thần phù yểu theo điệu Tả Nhậm đựơc phác họa do Thi Nại Am xuất thân từ miền sông Hoài, một trong những con sông ruột của Việt Tộc. Từ Hải cũng uống nứơc sông Hoài, nên mang hình ảnh uy hùng của một hiệp sĩ thượng thặng, một tay hảo hán “thế thiên hành đạo” để bênh vực những người bị đàn áp, lép vế, mà Kiều là một điển hình. Đó là hiện thân của nền triết lý Nhân Chủ Việt Nho.
Anh hùng tiếng đã gọi rằng,
Giữa đường dẫu thấy bất bằng ma tha.
Những điều bất bằng đó, những điều trái tai gai mắt đó đầy trong xã hội loài người, nhất là trong những thời ly loạn như hoàn cảnh của Nguyễn Du: nhà Lê đã quá suy tàn không còn đủ đặt hy vọng, nhưng các tay đang tranh giành quyền bính cũng chỉ là những giá áo túi cơm: triều đình đầy những xa hoa thái quá không làm được chi để cứu dân ngày thêm cơ cực. Trong trường hợp đầy bất bình đó tự nhiên Tiềm Thức nổi lên tiếng hú hồn nước: phải nhất định ra tay như những gương anh hùng dựng cờ cứu nước, nếu thất bại thì ít ra cũng như những anh hùng kiểu Tống Giang, Nguyễn Thái Học thắp sáng lại ngọn đuốc thiêng liêng: đó cũng chính là tâm trí của Nguyễn Du cũng muốn làm cho rõ mặt phi thường, cũng muốn:
Trọc trời quấy nước mặc dầu,
Dọc ngang nào biết trên đầu có ai.
Và quả thực Thi Hào đã có những toan tính xoay đổi tình thế, nhưng mưu cơ bại lộ phải ngồi tù ba tháng (Từ Hải chết đứng đó)…..
“Trơ như đá vững như đồng
Ai lay chẳng chuyển ai rung chẳng rời “.
Đến khi Kiều khai trước kẻ thắng trận cũng không ngần ngại tuyên bố
“Rằng Từ là đấng anh hùng,
Dọc ngang trời rộng vẫy vùng bể khơi “.
Đó phải là hai câu đề trên mộ Từ Hải. Đó cũng là câu phải đề trên mộ các Chiến Sĩ đã dầy công tranh đầu cho Dân Tộc cả trên cương vị chính trị lẫn văn hóa, cũng như trên chính mộ bia của Thi Bá, người đã quy tiên bằng cuộc tuyệt thực.
Đó là những Anh Hùng bất khuất với chí khí phi phàm. Tất cả là những cháu đích tôn của Hùng Vương, là những “Trai Hùng Gái Đảm” miêu duệ của Nữ Oa đội đá vá trời.
“Hơn đời Trí Dũng nghiêng trời Uy Linh.”
Đấy là bấy nhiêu hiện thân của tinh thần Hùng Cường Bi Tráng của Việt Tộc phát xuất tự Việt Đông, tức tự địa bàn Tổ nơi đã từng sản sinh ra Mẫu Người oai hùng Siêu Việt. Những Thánh Dóng quan thầy của triết lý An Vi.(11)
KẾT LUẬN
Bây giờ chúng ta có thể so sánh nội dung bài víết của tác giả với bài viết của ba người kia. Nhà nghiên cứu đầu tiên, tuy không thật sâu sắc, nhưng thiết tưởng cũng phần nào đạt được mục tiêu liên quan đến phần bàn về thân phận con người trước định mệnh.
Sâu sắc hơn là bài viết của Nữ Sĩ Đông Lan nhấn mạnh đến khả năng Hóa Giải của Nội Tâm đối với những nghịch cảnh ở đời cũng như sự khác biệt giữa tác phẩm ”Kiều” Tàu của Thanh Tâm Tài Nhân và “Kiều” Việt của Nguyễn Du.:
_ Tâm Đạo của Nguyễn Du đối laï với thuyết “Tài Mệnh tương đố” của TTTN
_ Tính tình nhỏ nhen của “Kiều” Tàu quyết chí trả thù Hoạn Thư đối với lòng Cao Thượng của “Kiều” Việt ra lệnh tha ngay sau khi nghe lời phân trần của Hoạn Thư.
_ “Kiều” Tàu là một cô gái tầm thường trong khi “Kiều” Việt là một Nghệ Sĩ tài ba mà trình độ Nghệ Thuật đạt tới mức “Vô Thanh” hay “Đạo Nghệ”
Kế đến là bài viết của Cố Triết Gia Kim Định vượt qua đợt “Hiện Nghĩa” để đạt tới
phần ‘Ẩn Nghĩa” với vai trò của Từ Hải không chỉ như một nhà Anh Hùng mà còn như một Sơ Nguyên Tượng (Archétype), tức mẫu mực Sơ Nguyên của dân tộc như Thánh Dóng chẳng hạn,.
Trong khi đó, tác giả vẫn còn mang nặng hình ảnh về Kiều và Từ Hải của tác phẩm TTTN: tức Kiều như một phụ nữ tầm thường và Từ Hải như một tướng cướp. Chính cái Khung Ý Thức Hệ “chật hẹp” khiến tác giả giữ lại hình ảnh SAI LẠC về Kiều, Từ Hải và các nhân vật khác.
Do đó, tác giả không đạt được mục tiêu “đào sâu nới rộng”, vì trong khi Gadamer chủ trương mở rộng ‘Chân Trời” đến một nền Nhân Bản Mới, thì tác giả lại đi thụt lùi trở về các thế kỷ 18, 19 với Hegel và Marx !!!
Lê Việt Thường
CHÚ THÍCH
(1)Trần Văn Đoàn, “Trần Văn Đoàn, “Tinh Hoa Ý Thức Hệ của Việt Nho” tp://www.dunglac.org/upload/article/f__1188379442.htm
(2) Trần Văn Đoàn, “Nghĩ về tâm lý thực dụng của người Việt”, Phỏng vấn BBC do Lê Quỳnh thực hiện, 04/04/2007 đăng trên mạng “Cánh Én”
(3) Kim Định, “Dịch Kinh Linh Thể”, An Việt Houston, 1989, tr.47-59
(4) Trần Văn Đoàn, “Tâm Đạo trong Việt Triết: Biện Chứng Tài Nhân- Nhân Tài trong Tư Ttưởng Nguyễn Du”, http://www.dunglac.org/index.php?m=module2&v=detailarticle&id=90&ia=8705
(5) David Vessey, “Gadamer and the Fusion of Horizons” ttp://74.125.153.132/search?q=cache:mGtgHpdRngkJ:www.davevessey.com/Gadamer_Horizons.htm+gadamer+fusion+of+horizon&cd=2&hl=en&ct=clnk&gl=au
(6)Idem
(7) Idem
(8) Idem
(9) Nguyễn Hiến Lê, “Mười Câu Chuyện Văn Chương”, Văn Nghệ, Cali. USA, 1986, 55- 62
(10) Đông Lan, “Tâm Đạo trong Truyện KIỀU
http://www.bacaytruc.com/index.php?option=com_content&task=view&id=3316&Itemid=49
(11) Kim Định, “Pho Tương Đẹp Nhát Việt Tộc”, )Kim Định, “Pho Tượng Đẹp Nhất của Việt Tộc”, An Việt, CA, USA,1984
| < Trước | Tiếp > |
|---|



Lời bình luận
Buy Flexiril
Buy Famvir
Buy Flomax
Buy Seroquel
Buy Dexamethasone
Buy Xenical trích dẫn
Tất cả lời bình luận của bài này theo dạng RSS-Feed.